VĂN HÓA THỂ THAO 8/2010

Văn hóa

Thế giới

UNESCO công nhận 21 di sản thế giới: Hội nghị thường niên UB di sản thế giới của UNESCO từ  25/7 đến 3/8 tại Brazil đã công nhận 21 di sản thế giới mới, trong đó có Hoàng thành Thăng Long của VN. Trong số đó có 15 di sản văn hóa mới gồm Hoàng thành Thăng Long (VN), Khu di tích Đăng Phong (TQ), Khu khảo cổ Sarazm (Tajikistan), Thành phố Albi (Pháp), Hệ thống kênh đào ở Singelgracht (Hà Lan), Thành At Turaif ở ad-Dir’iyah (Saudi Arabia), Các khu kết án thời thuộc địa Anh (Úc), Khu vực đài thiên văn Jantar Mantar ở Jaipur (Ấn Độ), Khu Sheikh Safi al-Din Khanegãh và quần thể miếu thờ ở Ardabil (Iran), Khu chợ cổ Tabriz (Iran), Quần đảo Bikini (quần đảo Marshall) Khu làng cổ Hahoe và Yangdong (Hàn Quốc), Quảng trường Sao Franciso ở thị trấn Sao Cristovao (Brazil), Những hang động tiền sử Yagul và Milta ở trung tâm thung lũng Oaxaca (Mexico) và Con đường bạc (Mexico). 5 di sản thiên nhiên mới được công nhận gồm có: Danxia (TQ), Khu vực bảo vệ quần đảo Phượng hoàng (Kiribati), Cao nguyên Putorana (Nga), Vùng núi miền trung Sri Lanka và dãy núi đảo Reunion (Pháp). 1 di sản hỗn hợp là Papahanaumokuakea (Mỹ): vừa là khu vực thiên đàng của các loài san hô và sinh vật biển khác vừa có những di chỉ quan trọng của người Hawai cổ.

Với việc Hoàng thành Thăng Long được công nhận là di sản thế giới, đây là di sản thế giới thứ 10 của VN sau 3 di sản văn hóa (kinh thành Huế-93, đô thị cổ Hội An-99, di tích Mỹ Sơn-99), 2 di sản thiên nhiên (vịnh Hạ Long, Phong Nha-Kẻ Bàng) và 4 di sản văn hóa phi vật thể (nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên, không gian văn hóa quan họ Bắc Ninh và ca trù).

Vụ mất tranh Van Gogh ở Ai Cập: 21/8 bức tranh quý Lọ hoa của danh họa Van Gogh (kích cỡ 30x30cm, vẽ năm 1887, trị giá 50 triệu USD) bị đánh cắp khỏi Bảo tàng Mahmoud Khalil ở Cairo và được tìm thấy ngay trong ngày ở sân bay Cairo khi 1 đôi nam nữ quốc tịch Ý chờ lên máy bay về nước mang theo bức tranh. Mặc dù bức tranh được tìm thấy 1 cách chóng vánh, thứ trưởng Bộ Văn hóa Ai Cập, ô.Mohsen Shalaan vẫn bị bắt giam với lời cáo buộc lơ là trong công tác và thiếu trách nhiệm nghiệp vụ. Văn phòng ô.Shalaan được đặt ngay trong bảo tàng và ông này chính là người điều hành kiêm quản lý tài chính của bảo tàng. Công tố viên cho rằng ô.Shalaan đã “thiếu trách nhiệm” vì không cho sửa sang lại hệ thống báo động và camera bị hỏng vốn làm cho an ninh của bảo tàng hết sức lỏng lẻo.

Người đẹp Mexico đăng quang Hoa hậu hoàn vũ 2010: Người mẫu chuyên nghiệp Jimena Navarrete (Mexico), 22 tuổi, cao 1m74 với câu trả lời ứng xử về nền tảng gia đình đã giành được vương miện Hoa hậu Hoàn vũ 2010 ngày 24/8 tại khu nghỉ dưỡng Mandalay Bay (Las Vegas, Mỹ). Cô là người đẹp Mexico thứ 2 trong lịch sử (sau Lupita Jones-1991) đăng quang Hoa hậu Hoàn vũ. Á hậu 1 là Yendi Phillipps (Jamaica), Á hậu 2 thuộc về Jesinta Campbell (Australia), Á hậu 3 là Anna Poslavska (Ukraina) và Venus Raj của Philippines là Á hậu 4. Hoa hậu Hoàn Vũ năm nay có 83 thí sinh đến từ 83 vùng lãnh thổ và quốc gia tham dự, VN không có người đẹp nào tham dự cuộc thi này.

Giải Emmy lần 62: Mad Men lần thứ ba chiến thắng: Bộ phim truyền hình tái hiện về cuộc sống những năm 1960 Mad Man và loạt phim hài Modern Family đã chiến thắng giải thưởng quan trọng nhất trong lễ trao giải Emmy 2010 (Mỹ) năm nay-giải thưởng được coi là Oscar của thể loại truyền hình: phim truyền hình chính kịch và phim hài xuất sắc nhất. Các giải DV xuất sắc nhất thuộc về: Bryan Cranston (nam DV-chính kịch-phim Breaking Bad), Kyra Sedgwick (nữ DV chính kịch-phim The Closer), Jim Parsons (nam DV hài- phim The Big Bang Theory), Edie Falco (nữ DV hài-phim Nurse Jackie). Đạo diễn phim hài xuất sắc là Ryan Murphy với phim Glee; đạo diễn phim chính kịch xuất sắc là Steve Shill với phim Dexter.Ở hạng mục chương trình truyền hình tranh tài thực tế, Top Chef đã kết thúc sáu năm thống trị giải Emmy của chương trình The Amazing Race.

Việt Nam

Các mộc bản kinh Phật được sao khắc từ thế kỷ 17 mang nội dung tư tưởng thiền phái Trúc Lâm tam tổ “nằm đắp chiếu” bao năm tại chùa Vĩnh Nghiêm (xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang) nay nhờ phong trào “xin” UNESCO công nhận di sản, mới có cơ hội “được sống”. Những mộc bản mà chùa Vĩnh Nghiêm còn giữ được đến nay gồm hơn 3.000 bản lẻ thuộc các thể loại: kinh, luật giới, trước tác nhà phật, sách thuốc… được san khắc nhiều đợt. Về mặt khoa học, lịch sử, đây là bộ sưu tập mộc bản kinh sách Phật duy nhất hiện còn được lưu giữ về Thiền phái Trúc lâm. Hồ sơ Mộc bản kinh Phật vượt qua vòng 1 thẩm định của UNESCO ở hạng mục đề cử là Di sản tư liệu thế giới.

Đại hội Liên đoàn Nhiếp ảnh quốc tế (FIAP) đã diễn ra tại Hà Nội từ 2 đến 8/8 song song với 1 cuộc triển lãm ảnh với 400 tác phẩm từ 60 nước và các đại biểu đi thực tế sáng tác ở Hà Nội, Ninh Bình và vịnh Hạ Long. Tháng trước có ý kiến của một số người trong nghề về tính chất nghiệp dư của FIAP, tuy nhiên sau đó dư luận có vẻ cũng đã lắng lại. Trên TT&VH 10/8 nguyên chủ tịch Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh VN Chu Chí Thành viết bài “FIAP có xa lạ với ta không?” sau khi đánh giá cao các bức ảnh trong triển lãm đã kết luận FIAP không xa lạ mà đồng điệu, đồng cảm với nhiếp ảnh VN và VN có 1 vị trí trang trọng trong gia đình FIAP. Chắc chắn bài viết này chưa làm các nghệ sĩ coi thường FIAP tâm phục khẩu phục nhưng đôi co bằng lời không phải là thế mạnh của giới nhiếp ảnh nên không thấy báo chí bàn luận gì thêm.

Khác với giới nhiếp ảnh, giới nhà văn rất giỏi về kỹ thuật chơi ngôn từ nên những ồn ào tại Đại hội Hội Nhà văn VN được phơi bày hết trước công luận, một phần trên các báo và phần lớn trên các blog của các nhà văn. 1 đại hội được coi là già cỗi đã tái bầu ông Hữu Thỉnh-nhà thơ vào cương vị chủ tịch Hội nhiệm kỳ thứ 3 liên tiếp. Kỳ đại hội lần này được tổ chức khá nhếch nhác với những lộn xộn trong việc phân phát phiếu bầu, những scandal như nhà văn lề trái Trần Mạnh Hảo bị ngắt micro khi đang phát biểu, 1 nhà văn già (các blog không nêu tên) bị đấm, nhà văn trẻ Vi Thùy Linh gửi truyền đơn cho các đại biểu vận động bầu cử cho một số nhà văn cùng môn phái, 1 “bản tin” tiết lộ chuyện hậu trường kéo dài hơn 10 số (không rõ tác giả bản tin) được các đại biểu truyền tay và cũng được đưa lên mạng, hầu hết các đại biểu đọc tham luận (trong đó có nhà văn lề trái Bùi Minh Quốc) phải bỏ dở bài phát biểu vì cử tọa vỗ tay đuổi xuống. Đại hội không bàn được điều gì sang trọng về văn chương mà chỉ tập trung chuyện nhân sự đã chọn ra danh sách BCH 15 người vào 6/8 gồm: Hữu Thỉnh (chủ tịch), 3 phó chủ tịch Nguyễn Trí Huân, Lê Quang Trang, Nguyễn Quang Thiều và 11 thành viên BCH: Trung Trung Đỉnh, Khuất Quang Thụy, Nguyễn Thị Thu Huệ, Trần Đức Tiến, Đào Thắng, Võ Thị Xuân Hà, Đình Kính, Vũ Hồng, Nguyễn Hoa, Văn Công Hùng và Phan Trọng Thưởng. Bên lề đại hội 1 nhóm nhà văn đã cùng ký tên vào 1 bức thư ngỏ đề nghị chuyển Hội Nhà văn từ 1 cơ quan nhận tiền ngân sách thành 1 tổ chức tự chủ thu chi để đảm bảo sự độc lập của các nhà văn, nhưng bức thư này không được sự hưởng ứng của đám đông.

1 sự kiện âm nhạc lẽ ra phải được dư luận quan tâm là gala Giai điệu mùa thu 2010 diễn ra trong 2 đêm 18 và 19/8 tại Nhà hát TP.HCM. Gala Giai điệu mùa thu được khởi xướng từ năm 2005, diễn ra 5 năm/lần với mục đích để các nghệ sĩ biểu diễn nhạc cổ điển người Việt, thành danh ở môi trường trong nước hoặc nước ngoài, có thể “báo cáo” với công chúng yêu nghệ thuật về những thành quả họ đã đạt được. Giai điệu mùa thu 2010 lần này có những tên tuổi hoàn toàn mới như: Lê Thu Quỳnh và Lê Thanh Thảo- 2 nghệ sĩ piano trẻ hiện đang học ở Ba Lan và Mỹ, cháu ngoại nhạc sĩ Văn Cao; Trần Yến Nhi, học sinh piano Nhạc viện TP, giải nhất lứa tuổi nhỏ Concour Âm nhạc quốc gia mùa thu 2007 tổ chức tại Hà Nội; Đặng Phú Vinh, nghệ sĩ oboe hiện đang theo học tiến sĩ nghệ thuật tại University of West Virginia, Mỹ… Tuy nhiên khán phòng 500 chỗ của Nhà hát không được lấp đầy trong cả 2 đêm, mong muốn mở rộng chương trình đến với mọi đối tượng khán giả thay vì chỉ bó hẹp trong phạm vi công chúng hàn lâm vẫn chưa thực hiện được. Chương trình cũng không có sự phối hợp nào với TV nên hạn chế khả năng mở rộng đối tượng thưởng thức.

Nghệ sĩ “rock rừng” Y Moan, nổi danh với loạt ca khúc bốc lửa của Nguyễn Cường về Tây Nguyên đã được phong tặng danh hiệu nghệ sĩ nhân dân 6/8, ngay trước live show “Ngọn lửa cao nguyên”-live show đầu tiên của ông ở Hà Nội. Cả live show lẫn danh hiệu được coi là những việc phải làm gấp vì sức khỏe của Y Moan hiện rất yếu, nhiều ca sĩ đồng nghiệp khách mời đã vừa khóc vừa hát trong chương trình này như thể sắp phải chia tay vĩnh viễn với ông. Với ý nghĩa có lẽ là tương tự, trong khuôn khổ hội báo Tuổi Trẻ 28/8 tại TP.HCM, album Én nhỏ tung bay của em bé Võ Hoàng Ngân (9 tuổi) bị bệnh ung thư đã được phát hành ra công chúng dưới dạng 1 CD và 1 DVD, album ngoài những bài Ngân hát solo, còn có những bài em hát chung với các ca sĩ thành danh như Đoan Trang, Xuân Nghi, Lê Cát Trọng Lý.

1 tháng có 2 cuộc thi Hoa hậu liền. 14/8 tại Tuần Châu (Quảng Ninh), cuộc thi Hoa hậu VN 2010 đã kết thúc với vương miện Hoa hậu thuộc về Đặng Thị Ngọc Hân (ảnh-SV ĐH Mỹ thuật Công Nghiệp Hà Nội, s.1988, cựu người mẫu nhóm Talent cùng với Mai Phương Thúy trước đây). Á hậu 1 là Vũ Thị Hoàng My, á hậu 2 là Đặng Thùy Trang. Dư luận cho rằng cô Hân chỉ nổi trội trong nhóm 5 người vào đến vòng cuối cùng, nhiều ứng viên xứng đáng hơn như Huỳnh Bích Phương (có gương mặt rất giống Hoa hậu thế giới người TQ Trương Tử Lâm) đã bị loại sớm, sự quen biết giữa cô với trưởng BGK Minh Hạnh (nhà thiết kế thời trang) cũng bị đàm tiếu và sau cuộc thi, 1 người mẫu Nga tham gia huấn luyện cho các thí sinh viết trên blog cá nhân về chuyện kết quả cuộc thi đã được biết trước khiến người ta càng cho rằng BTC cố ép giải thưởng về tay 1 cô gái Hà Nội để chào mừng 1000 năm Thăng Long. 1 chi tiết hài của cuộc thi là cô Nguyễn Thị Loan (Thái Bình) đoạt danh hiệu Người đẹp biển và vào đến Top 5 đã nói ngọng lờ nờ trong phần thi ứng xử. Cuộc thi thứ 2 là Hoa hậu thế giới người Việt tổ chức ở Nha Trang-1 cuộc thi tốn kém với sự tham gia của nhóm popera nổi tiếng Il Divo hát mở màn đêm chung kết và giá trị giải thưởng cực lớn (giải thưởng 500 tr.đ cùng quyền sở hữu vĩnh viễn vương miện trị giá 1 tỷ cho hoa hậu)- cũng có nhiều bê bối. Trong quá trình thi, 1 thí sinh đoạt danh hiệu Người đẹp áo dài là Phạm Thị Thùy Linh (TP.HCM) bị thu hồi danh hiệu vì bị phát hiện đã phẫu thuật chỉnh sửa mũi, tiếp đó giải thưởng “Người đẹp được yêu thích nhất” cũng bị hủy sau khi phát hiện bình chọn cho một số thí sinh tăng đột biến nhờ các phần mềm tin học bình chọn tự động. 22/8 tại đêm chung kết, vương miện hoa hậu đã thuộc về cô Lưu Thị Diễm Hương (TP.HCM), á hậu 1 là Nguyễn Ngọc Kiều Khanh (Đức) và Á hậu 2 là Phạm Thúy Vy Victoria (Mỹ). Câu trả lời của cô Hương về lịch sử 700 năm Quốc tử giám bị coi là sai và sau khi cô đoạt vương miện, người ta đã tung lên mạng kết quả học tập cực kém của cô.

Người mẫu Vũ Nguyễn Hà Anh đã được UNICEF lựa chọn làm Đại sứ thiện chí của UNICEF VN trong 2 năm, từ 8/2010 đến 7/2012. Sau cầu thủ Lê Huỳnh Đức, Hà Anh là người VN thứ hai trở thành Đại sứ thiện chí của Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc.

Thư giãn cuối tuần-chương trình mới được xem như sự tiếp nối của Gặp nhau cuối tuần đã gián đoạn với khán giả hơn 3 năm nay- đã bắt đầu lên sóng trên kênh VTV3 vào 28/8. Dài khoảng 50 phút, Thư giãn cuối tuần gồm 3 phần chính: Hỏi xoáy đáp xoay với những câu hỏi xoáy thú vị của Trần Xoáy (nghệ sĩ Xuân Bắc) và những câu trả lời bất ngờ, dí dỏm của giáo sư Cù Trọng Xoay (Tiến Dũng) về các vấn đề trong cuộc sống (chuyên mục có sự phối hợp với báo Tuổi Trẻ Cười); Copy & bơm vá lấy bối cảnh góc vỉa hè, nơi mưu sinh của hai nhân vật: một anh làm nghề photocopy (Tự Long), một anh làm nghề bơm vá (Công Lý) đề cập những vấn đề nổi cộm của đời sống xã hội qua lăng kính hài hước và cuối cùng là tiểu phẩm hài có tính giải trí nhẹ nhàng qua sự thể hiện của hàng loạt nghệ sĩ hai miền Nam, Bắc.

Thể thao

Rudisha phá 2 kỷ lục thế giới  trong 8 ngày: 30/8, vđv người Kenya David Rudisha đã lập KLTG chạy 800m nam với thành tích 1’41”01 tại Giải điền kinh IAAF World Challenge ở Rieti, Ý, phá KLTG do chính anh lập trước đó 8 ngày (và phá KLTG cũ do vđv Đan Mạch Wilson Kipketer lập cách đây 13 năm).

V-League 2010 đã kết thúc hôm chủ nhật 22/8 ở vòng đấu thứ 26. Hà Nội T&T-CLB lắm tiền nhiều của của bầu Hiển lần đầu tiên lên ngôi vô địch (từ vòng 25 và chia tay giải bằng 1 trận thua đậm trước HAGL), vị trí thứ 2 thuộc về CLB của các fans cuồng nhiệt-Xi măng Hải Phòng và vị trí thứ 3 thuộc về 1 đội đầu giải ít được đánh giá cao là TĐCS Đồng Tháp. Tứ đại gia của bóng đá VN Bình Dương, Đà Nẵng, HAGL và ĐTLA đồng loạt sa sút trong đó Đà Nẵng dù dẫn đầu giải lượt đi đã bất ngờ sa sút thảm hại từ sau World Cup chỉ đứng thứ 6 (Đà Nẵng cũng là CLB của bầu Hiển-ông chủ ngân hàng SHB), ĐTLA lẹt đẹt ở cuối bảng gần suốt giải bất ngờ tăng tốc ở những vòng cuối cùng nhưng do xuất thần quá chậm nên chỉ đoạt vị trí thứ 5, còn Bình Dương lập kỷ lục ngang với Ninh Bình về số lần thay HLV trong 1 giải đấu (4 HLV). Nam Định yên vị ở vị trí cuối bảng ngay từ tháng trước phải xuống hạng. Đội bóng lẽ ra cũng phải xuống hạng là đội thứ 2 từ dưới lên-Navibank Sài Gòn (đại diện duy nhất trên danh nghĩa của TP.HCM, thực chất là đội Quân khu 4 cũ, tương tự như T&T Hà Nội không phải là đội của Hà Nội) và Lam Sơn Thanh Hóa lẽ ra phải đá play-off với đội hạng 3 ở giải hạng nhất. Nhưng Lam Sơn Thanh Hóa và Navibank đã được cứu bởi Thông báo số 19 của LĐBĐVN, theo đó do giải hạng nhất không đủ 10 CLB hoạt động theo mô hình doanh nghiệp (như các đội đã cam kết từ trước giải) nên hạng này chỉ có đội vô địch được lên V-League, đội xếp thứ 2 là Than Quảng Ninh sẽ phải đá play-off với Navibank. Với thông báo này, Thanh Hóa đã trụ hạng và Navibank còn cơ trụ hạng nếu thắng Than Quảng Ninh, còn Bình Định (thứ 3 giải hạng nhất) đã chấm dứt giấc mơ lên hạng.

SLNA đoạt cúp quốc gia 2010: Sau khi V-League kết thúc, đến lượt Cúp Quốc gia đi tới trận chung kết, SLNA thắng HAGL 1-0 với bàn thắng của Ekopoki ở phút 25 đã đoạt Cúp này.

Xóa nghi án cầu thủ Tiền Giang bán độ, cá độ: 24/8, đại tá Đặng Quang Minh, trưởng phòng CSĐT tội phạm về trật tự xã hội-Công an Tiền Giang, cho biết liên quan đến vụ cựu cầu thủ CLB Tiền Giang Hồ Trúc Giang bị bắt, hiện không có cơ sở khẳng định các cầu thủ CLB Tiền Giang (giải hạng nhất) tham gia đường dây cá độ bóng đá của Giang. Vụ các tin nhắn gợi ý 4 cầu thủ Tiền Giang bán độ trận gặp TDC Bình Dương 27/2 cũng không đủ cơ sở kết luận có hay không.

Gọi lại các cầu thủ dàn xếp tỷ số vào đội tuyển: 30/8 LĐBĐVN đã công bố danh sách tập trung đội tuyển quốc gia và đội U-23 chuẩn bị cho Cúp bóng đá 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội, trong đó 2 cầu thủ vướng vào vụ dàn xếp tỉ số tại SEA Games 2005 ở Philippines là tiền đạo Phạm Văn Quyến (SLNA) và hậu vệ Lê Văn Trương (HAGL) đã được HLV Calisto gọi trở lại đội tuyển. Ngoài ra, ô.Calisto cũng gọi tiền vệ Xuân Thành (Hà Nội ACB) – người từng bị treo giò vì sử dụng thuốc lắc ở vũ trường năm 2007.

Nữ vđv bóng chuyền Nga Ira Merliakova nhập tịch VN: Chủ công 25 tuổi người Nga Ira Merliakova của đội bóng chuyền nữ Vietsovpetro đã chính thức trở thành công dân VN với tên Lê Kim Nhung thi đấu tại Giải bóng chuyền các đội mạnh-tranh cúp Đạm Phú Mỹ 2010, khai mạc chiều 20/8 tại Hà Tĩnh. Ira có 5 năm khoác áo Vietsovpetro và là 1 trong những trụ cột giúp đội này từ hạng A1 lên đấu tại giải các đội mạnh.

Posted in Uncategorized | Để lại phản hồi

BÁO CHÍ 7/2010: VIETNAMNET VS INNOVGREEN

Thuê đất rừng đầu nguồn tất nhiên liên quan đến lâm nghiệp, nhưng bài Nông-lâm-thủy sản 7/2010 quá dài, hơn nữa, vụ này thực chất liên quan đến nghiệp vụ báo chí nhiều hơn

Innovgreen gửi thư khắp nơi vu cáo VietNamNet

VietNamNet 3/7

Tháng 3/2010, trong lúc VietNamNet đăng loạt bài cho thuê đất rừng đầu nguồn thì ban lãnh đạo Innovgreen xin gặp để “bàn phương án hợp tác kinh doanh”. Những nội dung đàm phán kinh doanh đã được Innov Green dùng vu cáo VietNamNet đòi tiền để không đăng bài.

Ngày 10/3/2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo “Ủy ban nhân dân các tỉnh không được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới và không ký hợp đồng cho thuê đối với các dự án đầu tư nước ngoài trong trong lĩnh vực lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, đợi Chính phủ rà soát”, xung quanh việc một số địa phương cho nước ngoài thuê đất rừng.

Trước đó, Thủ tướng đã chỉ đạo Bộ NN&PTNT rà soát và báo cáo. Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, đã có 10 tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư trồng rừng cho các nhà đầu tư nước ngoài với tổng diện tích dự kiến là 305.353 ha.  

Theo Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên cho biết, diện tích rừng được giao cho các nhà đầu tư nước ngoài có cả rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, rừng tại các vị trí xung yếu về an ninh – quốc phòng.

Phóng viên VietNamNet đã có cuộc hành trình dài qua các địa phương Lạng Sơn, Quảng Ninh, Nghệ An, Quảng Nam… để tận mắt xem các dự án đã được cho thuê đất như thế nào? Nghe tiếng nói của các địa phương đã cho thuê đất và hỏi những người dân sở tại xem họ đã được hưởng những lợi gì từ các dự án này? Điều dễ nhận thấy rằng, nếu Thủ tướng không kịp thời yêu cầu các bộ ngành kiểm tra và báo cáo đầy đủ rồi ra chỉ đạo dứt điểm, kiên quyết không cấp giấy chứng nhận đầu tư mới, không ký hợp đồng cho thuê đất mới, chờ Chính phủ rà soát lại toàn bộ các dự án đã cấp phép, thì hệ quả chưa biết sẽ dẫn tới đâu?

VietNamNet đăng tải loạt bài về việc giao đất rừng cho công ty nước ngoài để Chính phủ có thêm một kênh thông tin từ thực tiễn tại các địa phương. Loạt bài nhận được hàng chục nghìn phản hồi của độc giả cả nước hoan nghênh hành động kịp thời của Chính phủ và bày tỏ sự bức xúc với thực tế đang diễn ra.

Trong lúc loạt bài đang lần lượt được đăng thì chúng tôi nhận được lời hẹn xin gặp để làm việc của lãnh đạo công ty Innovgreen, công ty đang thuê rừng đầu nguồn với diện tích lớn nhất trong số những công ty nước ngoài thuê rừng ở Việt Nam.

Ngày 4/3, đoàn Innovgreen gồm trưởng đoàn là Tổng Giám đốc Dean Wu, Phó Tổng giám đốc cùng các chuyên gia, nhân viên đến gặp và làm việc với VietNamNet. Phía VietNamNet có đại diện là Phó Tổng biên tập Phạm Anh Tuấn cùng Trưởng phòng tổ chức hành chính, lãnh đạo công ty cổ phần VietNamNet và một số nhân viên kinh doanh.

Trong cuộc làm việc, ngoài việc thanh minh cho những công việc của mình tại Việt Nam, Tổng Giám đốc Innovgreen bày tỏ mong muốn hợp tác kinh doanh, quảng bá sản phẩm dịch vụ, hợp tác truyền thông với VietNamNet.

Đại diện báo VietNamNet, ông Phạm Anh Tuấn, Phó Tổng biên tập trả lời với Tổng Giám đốc Innovgreen: Việc triển khai loạt bài viết đã thực hiện xong, đó là công tác nội dung của tờ báo, VietNamNet sẽ khách quan và đăng tải đầy đủ loạt bài về cho thuê đất rừng đầu nguồn. Việc hợp tác kinh doanh, quảng bá sản phẩm dịch vụ, hợp tác truyền thông nếu Innovgreen muốn thì đó là việc kinh doanh, không liên quan đến nội dung.

Sau cuộc gặp giữa hai bên, nhân viên Innovgreen liên tục gọi điện thúc giục Công ty cổ phần VietNamNet lên phương án hợp tác kinh doanh, báo giá các sản phẩm dịch vụ truyền thông.

Tuy nhiên những thảo luận trong hợp tác kinh doanh giữa Innovgreen và Công ty Cổ phần VietNamNet được nhân viên công ty Innovgreen gửi đi khắp nơi như “con tin” mà VietNamNet đưa ra để đòi tiền Innovgreen. Dưới đây là nội dung bức thư:

From: Truong Tung

To: Vu Thu Hong ; Le Kim Dung ; Nachuk, Stefan

Cc: LamDo Thanh ; Than thi Thien Huong ;Truong Thi Dieu Ha truongthidieuha@innovgreen.vn; langsononline@gmail.com; quangninhonline@gmail.com; ngheanonline@gmail.com; quangnanonline@gmail.com; kontumoline@gmail.com;

Sent: Thu Jul 01 03:55:52 2010

Subject: RE: lunch out exfarm

Dear all,

It’s so nice to see you all today. 

As promised, I would like to share the “email” from Vietnamnet to ask my organisation to pay VND 1.8 billion, otherwise they verbally inform that they will publish 10 negative articles. As we refused to pay, they did publish 10 articles during March and April. This is how a famous News Agency in Vietnam is working. (see email below..)

Cheers, Tung

Tạm dịch như sau:

(Rất vui được gặp tất cả mọi người ngày hôm nay.

Như tôi đã hứa, tôi sẽ chia sẻ email VietNamNet đòi công ty tôi trả 1,8 tỷ đồng, nếu không sẽ cho đăng 10 bài tiêu cực. Khi chúng tôi từ chối trả tiền, họ đã đăng 10 bài trong tháng 3 và tháng tư. Đây là cách một cơ quan thông tin nổi tiếng ở Việt Nam đang làm. (xem email dưới đây)

Chúc mừng, Tùng)

VietNamNet đã có kế hoạch triển khai loạt bài về cho thuê đất rừng đầu nguồn và báo cáo tình hình đến Thủ tướng Chính phủ, không thể vì bất cứ lý do gì mà phản bội lại độc giả và lợi ích quốc gia (bằng việc nhận tiền để không đăng bài).

Việc Innovgreen gửi thư đi khắp nơi nói rằng VietNamNet đòi 1,8 tỉ đồng nếu không sẽ đăng loạt bài là không có căn cứ và là sự xúc phạm đến báo VietNamNet.

Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin đến độc giả diễn biến vụ việc này.

http://vietnamnet.vn/psks/201007/Innov-Green-gui-thu-khap-noi-vu-cao-VietNamNet-919874/

Gieo “sự cố” để gặt “hợp đồng”?

Trân Văn RFA 8/7

Hôm 3 tháng 7, báo điện tử VietNamNet công bố bài viết, cho biết “InnovGreen gửi thư khắp nơi vu cáo VietNamNet”. 

InnovGreen đã làm gì, vu cáo báo điện tử VietNamNet ra sao? Sự kiện đó còn có gì khác đáng chú ý, Trân Văn tường trình thêm…

Tham gia nhận diện một đại họa…

InnovGreen là tên một công ty có trụ sở đặt tại Hồng Kông, đã đầu tư vào Việt Nam từ năm 2004. Mục tiêu của InnovGreen là phát triển rừng để lấy gỗ làm nguyên liệu.

Theo InnovGreen, tính đến năm 2008, công ty này đã được cấp phép sử dụng đến 449.000 héc ta đất tại các tỉnh: Thanh Hóa, Quảng Ninh, Nghệ An, Lạng Sơn, Kon Tum, Quảng Nam.

Tuy nhiên người ta chỉ thật sự chú ý đến sự hiện diện của InnovGreen tại Việt Nam, khi tướng Đồng Sỹ Nguyên và tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cùng lên tiếng cảnh báo rằng, việc 10 tỉnh ở Việt Nam lấy rừng đầu nguồn cho 10 doanh nghiệp của Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, trong đó có InnovGreen thuê sẽ là một đại họa cho quốc gia trong tương lai.

Sau khi thư cảnh báo của tướng Đồng Sỹ Nguyên và tướng Nguyễn Trọng Vĩnh được phổ biến rộng rãi trên các diễn đàn điện tử và các blog vào tháng 2, khoảng cuối tháng 2, đầu tháng 3, báo chí Việt Nam bắt đầu lên tiếng về đại họa ấy. Trong số này có báo điện tử VietNamNet.

Sự phẫn nộ của dư luận và công luận trong việc đem rừng đầu nguồn cho các doanh nghiệp Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông thuê để phát triển – khai thác nguồn gỗ nguyên liệu đã đạt một số hiệu qủa nhất định. Thủ tướng Việt Nam đã ra lệnh ngưng cấp giấy chứng nhận đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản cho giới đầu tư nước ngoài để rà soát lại.

Cho rằng bị “vu cáo” 

Cũng vì vậy, dư luận về việc đem rừng đầu nguồn cho nước ngoài thuê đã tạm lắng. Cho tới hôm 3 tháng 7, báo điện tử VietNamNet đột ngột loan báo “InnovGreen gửi thư khắp nơi vu cáo VietNamNet”.

Trong bài viết này, báo điện tử VietNamNet kể rằng, hồi tháng 3 vừa qua, trong lúc VietNamNet đang đăng loạt bài về việc lấy đất giao cho các doanh nghiệp nước ngoài thuê để trồng rừng thì lãnh đạo của InnovGreen – công ty dẫn đầu về diện tích rừng được Việt Nam cho thuê – xin gặp. Đầu tháng 3, đại diện của VietNamNet (bao gồm một Phó Tổng Biên tập, Trưởng Phòng Tổ chức Hành chính, lãnh đạo Công ty cổ phần VietNamNet và một số nhân viên kinh doanh) đã tiếp Tổng Giám đốc, Phó Tổng giám đốc, các chuyên gia, nhân viên của InnovGreen.

Theo tường thuật của báo điện tử VietNamNet, trong cuộc gặp ấy, ngoài chuyện thanh minh, “Tổng Giám đốc InnovGreen còn bày tỏ mong muốn hợp tác kinh doanh, quảng bá sản phẩm dịch vụ, hợp tác truyền thông với VietNamNet”.

Phía báo điện tử VietNamNet thì cho biết họ đã khẳng định: Sẽ khách quan và đăng tải đầy đủ loạt bài về việc cho thuê đất rừng đầu nguồn. Việc hợp tác kinh doanh, quảng bá sản phẩm dịch vụ, hợp tác truyền thông nếu InnovGreen muốn thì vẫn có thể thực hiện được và đó là việc hoàn toàn khác. Sau cuộc gặp giữa hai bên, nhân viên Innov Green liên tục gọi điện thúc giục Công ty cổ phần VietNamNet lên phương án hợp tác kinh doanh, báo giá các sản phẩm dịch vụ truyền thông.

Thế rồi theo VietNamNet, gần đây: InnovGreen gửi thư đi khắp nơi, nói rằng VietNamNet đòi 1,8 tỉ đồng nếu không sẽ đăng loạt bài là không có căn cứ và là sự xúc phạm đến báo điện tử VietNamNet.

Trong bài “InnovGreen gửi thư khắp nơi vu cáo VietNamNet”, VietNamNet chỉ công bố một email do một nhân viên InnovGreen gửi cho bạn bè, hứa “sẽ chia sẻ email VietNamNet đòi công ty tôi trả 1,8 tỷ đồng”. Hình như chính lời hứa này khiến VietNamNet phải viết bài vừa dẫn.

Liệu VietNamNet có email nào gửi cho InnovGreen liên quan đến khoản tiền 1,8 tỷ đồng?  

Biến “đại họa” thành “sự cố truyền thông”?

Theo một vài nguồn riêng của RFA, vào ngày 19 tháng 3 năm nay, một nhân viên của VietNamNet là cô Huyền Sâm đã gửi email cho một nhân viên của InnovGreen tên là Trương Thị Diệu Hà, chưa kể email còn được cùng gửi cho ba nhân vật khác thuộc VietNamNet. Email viết như thế này:     

“Dear chị Diệu Hà,

Xin gửi chị phác thảo đề xuất truyền thông. Chị xin ý kiến lãnh đạo trước nhé, sau đó chúng ta sẽ tiếp tục cụ thể hơn.

ĐỀ XUẤT TRUYỀN THÔNG CHO INNOVGREEN

Nội dung công việc

Tư vấn xử lý sự cố truyền thông:

1.1 Báo cáo đánh giá phân tích tình hình khủng hoảng khi xảy ra sự cố liên quan đến thương hiệu Innov Green.

1.2 Đề xuất chiến lược và giải pháp xử lý khủng hoảng truyền thông cho InnowGreen thông qua đội ngũ nhân sự giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực truyền thông tư vấn.

1.3 Hỗ trợ giải quyết khủng hoảng truyền thông bằng những thông tin đa chiều, khách quan trên báo VietNamNet

Thông tin đa chiều về Innov Green trên Báo VietNamNet: Innov Green có cơ hội đưa các thông tin phản hồi, cập nhật, nói lại cho rõ, giải thích kỹ hơn…về những thông tin chưa đầy đủ hoặc chưa chính xác trên truyền thông trước đây, gây hình ảnh tiêu cực hoặc hiểu sai của độc giả trong thời gian qua.

Ví dụ: Innov Green chỉ trồng rừng nguyên liệu sản xuất, đã tham gia sản xuất kinh doanh tại thị trường Việt Nam 5 năm, thực hư chuyện Innov Green chậm trả tiền cho người dân tham gia trồng rừng, việc Innov Green chậm trả tiền đền bù hoa màu cho dân, ….

Tin, bài, phóng sự, video clip để truyền thông, quảng cáo cho các hoạt động của Innov Green, nhằm nâng cao uy tín, năng lực của thương hiệu Innov Green trên quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng.

- Thời gian thực hiện hợp đồng: 6 tháng

- Tổng kinh phí dự kiến: 1,8 tỷ.

Trân trọng,

Huyền Sâm, Công ty Cổ phần VietNamNet – VM”

Chúng tôi đã gọi điện thoại phỏng vấn chính cô Huyền Sâm – người vẫn được VietNamNet giới thiệu là nhân vật để công chúng liên hệ về truyền thông và quảng cáo tại miền Bắc để hỏi thêm về email vừa dẫn: 

Trân Văn: Thưa chị Huyền Sâm ạ?

Huyền Sâm: Vâng ạ!

Trân Văn: Thưa chị, tôi là Trân Văn ở Đài Á Châu Tự Do.

Huyền Sâm: Dạ

Trân Văn: Tôi muốn hỏi thăm chị về email mà chị gửi cho chị Diệu Hà ở bên InnovGreen.

Huyền Sâm: Dạ

Trân Văn: Thưa chị là đề xuất mà VietNamNet đưa ra cho InnovGreen thì cuối cùng phía InnovGreen họ có đồng ý thực hiện không?

Huyền Sâm: Đề xuất đưa ra cho InnovGreen có đồng ý thực hiện không… À…

Trân Văn: Tư vấn về “xử lý sự cố truyền thông” đó chị…

Huyền Sâm: Vẫn đang trong quá trình đàm phán anh ạ… rồi thôi ạ…

Trân Văn: Vẫn đang trong quá trình đàm phán rồi thôi… như vậy là sau cuộc họp giữa VietNamNet và InnovGreen thì chị gửi email này ra phải không ạ?

Huyền Sâm: Anh ơi tôi xin lỗi vì con tôi nó quấy tí. Tôi đang gọi, tôi gọi chồng cái đã anh nhá. Tôi gọi lại cho anh.

Trân Văn: Vâng!… 

Theo một số nhà báo ở Việt Nam, bài “InnovGreen gửi thư khắp nơi vu cáo VietNamNet”, do chính báo điện tử VietNamNet loan báo, có vài điểm đáng chú ý. Thứ nhất, việc tiếp các cá nhân, tổ chức có liên quan đến những tin/bài mà một cơ quan truyền thông đã đăng, thường do các bộ phận trực tiếp đảm trách nội dung của cơ quan truyền thông đó tiếp nhận, xem xét và xử lý. Trong trường hợp InnovGreen, không rõ vì sao, báo điện tử VietNamNet lại cử thêm “lãnh đạo Công ty cổ phần VietNamNet và một số nhân viên kinh doanh” cùng tiếp đối tượng?   

Thứ hai, vì sao VietNamNet lại có thể bàn bạc về “việc hợp tác kinh doanh, quảng bá sản phẩm dịch vụ, hợp tác truyền thông với InnovGreen”  nếu “InnovGreen muốn”  trong khi InnovGreen là đối tượng của một vụ tai tiếng mà báo điện tử VietNamNet đang tham gia phanh phui?  

Chúng tôi đã nêu những thắc mắc này với ông Nguyễn Anh Tuấn, Tổng Biên tập báo điện tử VietNamNet và đó sẽ là một phần của nội dung bài kế tiếp, mời quý vị đón xem.

 ♦

Lần trước, qúy vị đã nghe Trân Văn tường trình về một số vấn đề, quanh sự kiện báo điện tử VietNamNet loan báo “InnovGreen gửi thư khắp nơi vu cáo VietNamNet”.

Những thông tin do chính VietNamNet loan báo đã gợi ra nhiều thắc mắc và đó là lý do Trân Văn liên lạc với ông Nguyễn Anh Tuấn – Tổng Biên tập VietNamNet, mời qúy vị cùng nghe…

Vì sao “nội dung” kết hợp với “kinh doanh”?

Trân Văn: Thưa anh, sau khi đọc bài “InnovGreen gửi thư khắp nơi vu cáo VietNamNet”, có một số ý kiến cho là trong trường hợp InnovGreen, không rõ vì sao khi gặp đại diện của InnovGreen, báo điện tử VietNamNet lại cử thêm lãnh đạo Công ty cổ phần VietNamNet và một số nhân viên kinh doanh cùng tiếp đối tượng. 

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Trong chuyện này, theo tôi được biết (vì tôi không tổ chức cuộc họp đó, đó là Phó Tổng Biên tập trực tiếp chỉ đạo) thì bất kỳ vấn đề gì, chúng tôi hay họp với tính chất tập thể như là lãnh đạo, tổ chức hành chính… Thế thì có thể là trong buổi gặp mặt đó, những người làm công tác kinh doanh của Công ty cổ phần Truyền thông VietNamNet biết và xin tham gia nhưng không phải là báo điện tử VietNamNet tổ chức có ý định cho người đó tham gia.  Thế còn chính thức về phía VietNamNet thì tôi nghĩ rằng là có đại diện là Phó Tổng Biên tập với Tổ chức Hành chính.  

Trân Văn: Thưa anh, thông thường, việc tiếp các cá nhân, tổ chức có liên quan đến những tin/bài mà một cơ quan truyền thông đã đăng, sẽ do các bộ phận trực tiếp đảm trách nội dung của cơ quan truyền thông đó tiếp nhận, xem xét và xử lý. Trong trường hợp này, InnovGreen đang là đối tượng của một vụ tai tiếng mà báo điện tử VietNamNet tham gia phanh phui, thế thì vì sao VietNamNet lại có thể bàn bạc về “việc hợp tác kinh doanh, quảng bá sản phẩm dịch vụ, hợp tác truyền thông với InnovGreen”?

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Chúng tôi không bàn bạc! Hôm đấy, theo Phó Tổng Biên tập Phạm Anh Tuấn báo cáo lại thì InnovGreen đến để trình bày về vấn đề của InnovGreen, vì  Phó Tổng Biên tập Phạm Anh Tuấn là người phụ trách trực tiếp về nội dung mảng Pháp lý – Điều tra và trực tiếp chỉ đạo mạch vấn đề này thì Phó Tổng Biên tập Phạm Anh Tuấn là người trực tiếp đại diện cho nội dung và tiếp…

Thế còn khi mà công ty InnovGreen đặt vấn đề hợp tác kinh doanh và cùng làm truyền thông thì Phó Tổng Biên tập Phạm Anh Tuấn đã khẳng định, đấy là những công việc khác và có thể liên hệ với bộ phận kinh doanh. Còn nội dung thì VietNamNet làm độc lập và những mạch bài mà VietNamNet triển khai thì tiếp tục triển khai.

Đấy là những báo cáo mà  Phó Tổng Biên tập Phạm Anh Tuấn báo cáo lại với tôi.

Trân Văn: Đọc bài “InnovGreen gửi thư khắp nơi vu cáo VietNamNet” của VietNamNet, người ta thắc mắc là tại sao lại có một sự kết hợp, có thể nói là nhuần nhuyễn giữa bộ phận làm nội dung và bộ phận kinh doanh mà theo như anh giải thích là hai bộ phận hoàn toàn độc lập với nhau…

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Hiện nay thì chúng tôi không có sự kết hợp nào giữa bộ phận kinh doanh và bộ phận làm nội dung. Hiện nay là chúng tôi độc lập. Phần nội dung của VietNamNet do báo điện tử VietNamNet triển khai. Còn phần kinh doanh là do Công ty cổ phần Truyền thông VietNamNet kinh doanh và bộ phận kinh doanh đó triển khai chứ không có sự phối hợp, tác động vào nội dung của khối nội dung của tờ báo… 

Trân Văn: Nhưng trong bài “InnovGreen gửi thư khắp nơi vu cáo VietNamNet” thì chính VietNamNet trình bày là ở cuộc gặp giữa đại diện VietNamNet và đại diện của InnovGreen thì có sự tham gia của lãnh đạo Công ty cổ phần Truyền thông VietNamNet và một số nhân viên kinh doanh. Đó là một vấn đề…

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Vâng! Thế này, như tôi đã trình bày ở phần trước thì có lẽ là những nhân viên kinh doanh của Công ty cổ phần Truyền thông VietNamNet biết thông tin và đến tham dự. Điều này thực ra chúng tôi đã rút kinh nghiệm. Không được phép làm như vậy vì như vậy là không hợp lý lắm. Tôi đã có ý kiến sau đó với nhóm kinh doanh của VietNamNet là không nên tham gia vào những việc như vậy và chúng tôi cũng đã rút kinh nghiệm. Rõ ràng là không nên để những thông tin đó ra và để những nhân viên kinh doanh VietNamNet họp hành với khối nội dung. Hiện nay chúng tôi cũng đã rút kinh nghiệm.

Ngoại lệ hay “nếp”?

Trân Văn: Thưa anh Tuấn, InnovGreen có phải là trường hợp duy nhất không hay đây là một cái nếp? Liệu là trước đây, ngoài InnovGreen thì còn những trường hợp khác không?

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Về vụ việc mà chúng tôi trực tiếp chỉ đạo, tôi được biết là… chắc chắn là hai mảng nội dung và kinh doanh là độc lập. Hai thực thể độc lập với nhau. 

Trân Văn: Nhưng thưa anh là sau khi xảy ra vụ InnovGreen thì anh đã kiểm tra lại chưa và anh có biết là VietNamNet đã ký khoảng bao nhiêu “hợp đồng tư vấn về truyền thông”, hay là “xử lý sự cố về truyền thông” như là dự định của VietNamNet với InnovGreen không? 

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Tôi thì tập trung chủ yếu vào nội dung và nếu như có những ý kiến như vậy thì chúng tôi sẽ xem xét và chúng tôi sẽ có ý kiến trả lời lại các anh là như thế nào. Hiện nay chúng tôi chưa kiểm tra lại.

Trân Văn: Cám ơn anh Tuấn.

Đánh trước, “đàm” sau

Ở bài “InnovGreen gửi thư khắp nơi vu cáo VietNamNet”, báo điện tử VietNamNet khẳng định: VietNamNet đã có kế hoạch triển khai loạt bài về cho thuê đất rừng đầu nguồn và báo cáo tình hình đến Thủ tướng Chính phủ, không thể vì bất cứ lý do gì mà phản bội lại độc giả và lợi ích quốc gia (bằng việc nhận tiền để không đăng bài).

Trên thực tế, loạt bài liên quan đến InnovGreen đã được đăng tải đầy đủ đúng như VietNamNet khẳng định. 

Song vấn đề đáng quan tâm là vì sao ngay vào lúc đang “đánh” InnovGreen, VietNamNet lại có thể mời chào InnovGreen tham gia hợp đồng “Tư vấn xử lý sự cố truyền thông”. Có thể hứa hẹn: Đề xuất chiến lược và giải pháp xử lý khủng hoảng truyền thông cho InnovGreen thông qua đội ngũ nhân sự giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực truyền thông tư vấn. Hỗ trợ giải quyết khủng hoảng truyền thông bằng những thông tin đa chiều, khách quan trên báo VietNamNet

Giúp: Innov Green có cơ hội đưa các thông tin phản hồi, cập nhật, nói lại cho rõ, giải thích kỹ hơn… về những thông tin chưa đầy đủ hoặc chưa chính xác trên truyền thông trước đây, gây hình ảnh tiêu cực hoặc hiểu sai của độc giả trong thời gian qua.

Không riêng VietNamNet, trong thời gian vừa qua, đã có rất nhiều cơ quan truyền thông tại Việt Nam thành lập công ty. Bao nhiêu công ty trực thuộc các cơ quan truyền thông Việt Nam đang thực hiện vai trò “tư vấn về chiến lược truyền thông”, hay  “xử lý sự cố truyền thông” theo kiểu như thế?   

 Ảnh: banner trên trang web của Innovgreen

Posted in Uncategorized | 1 phản hồi

VINASHIN (2)

Các bình luận

Bà Phạm Chi Lan: Cứu Vinashin không phải là cứu ngành đóng tàu

(Ngọc Lan ghi-TBKTSG 8/7)

Theo bà Phạm Chi Lan, Vinashin hay bất cứ doanh nghiệp có vốn nhà nước nào trên bờ vực phá sản đáng lẽ cần phải được cải tổ, chấn chỉnh vài năm để chứng tỏ sức tồn tại đến đâu. Nay, họ chưa cần bất cứ nỗ lực cải tổ, thay đổi nào đã được chuyển nợ, bơm vốn. “Làm như vậy thì làm sao họ có động lực mạnh để cải cách và nâng cao sức cạnh tranh?” – bà đặt câu hỏi.

Cứu Vinashin cũng không đồng nghĩa với việc cứu ngành đóng tàu mà Nhà nước đã kỳ vọng và đầu tư. Bởi bà Lan nhận định muốn duy trì ngành đóng tàu, không phải bỏ tất cả tiền của và hy vọng vào “cái thùng không đáy” Vinashin trong khi nếu đưa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài khác đầu tư vào lĩnh vực này thì vừa nâng cao sức cạnh tranh cho Vinashin, vừa hạn chế tiêu tiền nhà nước.

Cứu Vinashin, trong mắt các chuyên gia kinh tế, còn là hành động không công bằng với các ngành khác. Ngành đóng tàu chưa phải ưu tiên số 1 của nền kinh tế lúc này, cũng chưa chứng minh được việc rót thêm vốn sẽ giúp làm ăn có hiệu quả hơn, trong khi nhiều ngành khác đang khổ sở vì thiếu vốn, thiếu đầu tư. “Ngành điện hay cơ sở hạ tầng cần vốn đầu tư hơn nhiều và tạo hiệu quả ngay”, bà Lan nói. Vì ngành điện thiếu vốn và không được đầu tư đến nơi nên hiện đã gây ảnh hưởng toàn xã hội, đến môi trường đầu tư của Việt Nam, đến các ngành xuất khẩu vốn đang mang lại lợi thế cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế.

Bà Lan nhận định việc Việt Nam sử dụng vốn vay từ nước ngoài để cứu một tập đoàn như Vinashin – vốn đã được nhiều bên cho vay cảnh báo về hiệu quả sử dụng vốn, có thể làm cho uy tín vay nợ của Việt Nam bị ảnh hưởng. “Họ cũng có quyền nghĩ những hành động kiểu như vậy là biểu hiện của một nhóm lợi ích và chỉ một nhóm lợi ích được hưởng”.

http://www.thesaigontimes.vn/Home/thoisu/sukien/37254/

Nguyễn Quang A (ảnh): Ai chịu trách nhiệm về sự đổ vỡ Vinashin?

TBKTSG 8/7

Đến nay sự sai phạm ở Vinashin đã tương đối rõ. Bài viết này chỉ đưa ra vài nhận xét thuần túy về kinh tế liên quan đến các động lực, chính sách cũng như cách hành xử đã đẩy Vinashin đến đổ vỡ.

Vinashin đã vỡ nợ chưa?: Trả lời câu hỏi của một tờ báo về khả năng Vinashin có lâm vào tình trạng vỡ nợ nếu không được giải cứu, Tổng giám đốc điều hành của Vinashin ông Trần Quang Vũ khẳng định: “Chúng tôi gặp khó khăn nhưng chúng tôi không thể vỡ nợ được. Bởi thực ra, Vinashin không phải mất tài sản mà tài sản của chúng tôi vẫn ở các dự án, là đất, là những con tàu đóng dở” (người viết nhấn mạnh).

Thật buồn cho câu hỏi và càng đáng buồn hơn vì câu trả lời của “doanh nhân” lớn, CEO của một tập đoàn một thời lừng lẫy. Nếu lãnh đạo cấp cao vẫn tư duy theo kiểu đó, sau tái cơ cấu lần này Vinashin sẽ lại vỡ nợ trong tương lai không xa.

Vinashin đã thực sự vỡ nợ từ lâu rồi: 1 DN không có khả năng trả nợ gốc và lãi khi đến hạn là doanh nghiệp lâm vào trạng thái vỡ nợ, hay phá sản. Điều 3 của Luật Phá sản quy định, “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản”. Tài sản của doanh nghiệp có thể lớn hơn công nợ nhiều nhưng doanh nghiệp vẫn có thể bị phá sản.

Theo báo cáo giám sát của Quốc hội “tổng số nợ quá hạn của Vinashin đến hết năm 2008 cũng lên tới 3.812 tỉ đồng, chiếm trên 91% tổng số nợ quá hạn của các tập đoàn năm 2008”. Nói cách khác năm 2008 Vinashin đã lâm vào tình trạng không trả được nợ đến hạn, tức là lâm vào tình trạng vỡ nợ hay phá sản (chỉ có điều chưa chủ nợ nào buộc Vinashin tuyên bố phá sản theo luật. Vinashin còn nợ Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí (PVFC) 1.835 tỉ đồng trong đó nợ quá hạn hơn 1.300 tỉ đồng).

Chỉ qua 2 con số trên cũng thấy Vinashin đã thực sự vỡ nợ sau hai năm thành lập. Chính vì thế mà năm 2009, đã có lúc Chính phủ phải can thiệp để tái cơ cấu Vinashin.

Chính phủ có ưu ái Vinashin?: Ô.Phạm Viết Muôn, Phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, phủ nhận: “Nói Chính phủ ưu ái Vinashin là không đúng. Phát triển công nghiệp chế tạo, trong đó có đóng tàu, là một trọng điểm của Đảng và Nhà nước để phát triển kinh tế biển. Đã là trọng điểm thì có hỗ trợ, và Chính phủ có cơ chế hỗ trợ”.

Theo từ điển tiếng Việt (Trung tâm từ điển học, 2009), ưu ái có nghĩa là “yêu thương và lo lắng cho”. Chẳng lẽ Chính phủ không yêu thương, không lo lắng cho Vinashin?

Chính phủ đi vay 750 triệu đô la Mỹ cho Vinashin dùng, Chính phủ yêu cầu các ngân hàng khoanh nợ cho Vinashin từ gần một năm nay, nợ quá hạn của Vinashin không được coi là quá hạn và bất chấp những quy định về tín dụng của Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ yêu cầu các ngân hàng tiếp tục cho Vinashin vay (đấy là sự can thiệp vi phạm các quy định hiện hành). Từ tháng 10-2009, Thủ tướng đã có Quyết định 1596/QĐ-TTg về các giải pháp thực hiện tái cơ cấu tài chính đối với Vinashin, Ngân hàng Nhà nước đã có Văn bản số 357/NHNN-TD.m ngày 17-7-2009 về khoanh và cơ cấu lại các khoản nợ cũ của Vinashin.

Nay lại tái cơ cấu một lần nữa và Chính phủ tiếp tục phát hành trái phiếu và cho tập đoàn này vay lại để thực hiện các dự án cấp thiết và cơ cấu lại nợ trong nước đã đến hạn.

Đấy mới chỉ là nói đến một phần vốn mà chính phủ lo cho Vinashin. Đấy chẳng lẽ không là sự ưu ái?

Vinashin có cơ man nào là đất từ Quảng Ninh đến Cà Mau, cứ đến tỉnh nào là đều “xin” được đất. Có công ty nào trong bốn năm trời làm được như vậy? Đấy chẳng lẽ không là sự ưu ái?

Còn có thể kể ra nhiều bằng chứng khác (như quyết định của Chính phủ bắt Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước “ôm” khoản đầu tư vào Bảo Việt của Vinashin giúp giảm cả ngàn tỉ đồng lỗ từ năm ngoái) về sự ưu ái mà Chính phủ dành cho Vinashin.

Có thể nói Chính phủ đã “quá ưu ái” Vinashin và chính sự nuông chiều này đã làm mềm ràng buộc ngân sách và là một trong vài nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của Vinashin.

Ai chịu trách nhiệm về sự đổ vỡ Vinashin?: Theo Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, những sai phạm của ông Phạm Thanh Bình, Chủ tịch HĐQT Vinashin “trong huy động, quản lý, sử dụng tiền vốn của Nhà nước là do thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý làm trái và có biểu hiện vụ lợi cá nhân, gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội. Các khoản nợ của Vinashin rất lớn, mất khả năng thanh toán”. Ông chủ tịch còn để xảy ra xung đột lợi ích khi bổ nhiệm người thân giữ các trọng trách lớn mà luật pháp nghiêm cấm. Các lãnh đạo khác của Vinashin cũng đang tiến hành kiểm điểm trách nhiệm và một số có thể bị truy cứu trách nhiệm. Sự thiếu hiểu biết của họ dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng.

Nhưng ngoài những người trực tiếp này còn những ai cũng phải chịu trách nhiệm? Đấy mới là vấn đề chính.

Khi “bán lại” cổ phần Bảo Việt cho SCIC Vinashin lấy giá gốc (cao hơn khoảng 2 lần giá thị trường) và giảm được khoản lỗ cả ngàn tỉ đồng; còn tái cơ cấu lần này với việc “bán lại” các tài sản mà chủ yếu là đất kiếm được với giá rẻ nay chắc sẽ được chuyển nhượng với giá “quy định của Nhà nước mới đây” cao gấp nhiều lần, chắc chắn trên sổ sách Vinashin sẽ lấy lại được “cân đối”, thậm chí có lời và có thể khỏa lấp các khoản thất thoát khó ai có thể biết là bao nhiêu. (Tổng công ty Dầu khí Việt Nam cứu Vinashin thực ra một phần cũng là để “siết nợ”).

Cách “cứu vớt” doanh nghiệp kiểu này sẽ tạo ra tiền lệ rất xấu cho các doanh nghiệp nhà nước và càng làm cho ràng buộc ngân sách của chúng mềm hơn và sẽ có những hậu quả khôn lường.

Cần rút ra bài học nghiêm túc từ sự đổ vỡ của Vinashin và thay đổi tư duy một cách triệt để nhằm cải tổ các doanh nghiệp nhà nước.

http://www.thesaigontimes.vn/Home/thoisu/sukien/37253/

PGS.TS. Vũ Trọng Khải: Chặn bình thông nhau

TBKTSG 8/7

Các bài học rút ra từ chuyện “tái cơ cấu” Vinashin, không chỉ cho tập đoàn này mà còn cho các doanh nghiệp nhà nước khác.

Bài học pháp lý: Vinashin là một doanh nghiệp có một chủ sở hữu là Nhà nước. Từ 30-6-2010 trở về trước, nó hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước. Do đó, tuy không thể hiện trên văn bản, nhưng trên thực tế, Vinashin là doanh nghiệp trách nhiệm vô hạn.

Theo đó, ngân sách nhà nước và ngân sách doanh nghiệp là “hai bình thông nhau”. Điều đó có nghĩa khi doanh nghiệp thiếu vốn, ngân sách nhà nước “tự động” cung ứng, dưới dạng cấp vốn hay cho vay theo quyết định của chủ sở hữu, mà ở đây là Chính phủ hay người đứng đầu Chính phủ.

Trên thực tế, tình trạng tài chính của Vinashin đã diễn ra như vậy, cho nên dù hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ nặng, Vinashin vẫn chưa rơi vào tình trạng phá sản. Bởi theo Luật Phá sản, doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì mới bị coi là lâm vào tình trạng phá sản.

Nhưng ở trường hợp này, chủ nợ lớn nhất của Vinashin là Chính phủ, chứ không phải là nhà cung ứng vật tư, tín dụng cho Vinashin. Ở đây, Chính phủ cùng một lúc đóng ba vai trò: (i) Chính phủ quản lý doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp nhà nước nói riêng theo pháp luật, (ii) Chính phủ là chủ sở hữu vốn; (iii) Chính phủ là chủ nợ.

Chính phủ với tư cách là chủ nợ không những không đòi lại các khoản nợ đến hạn mà còn cấp thêm vốn hay bảo lãnh cho vay, cho vay tiếp thì đến bao giờ Vinashin mới lâm vào tình trạng phá sản theo luật định?

Do Luật Doanh nghiệp nhà nước hết hiệu lực vào ngày 1-7-2010, nên từ thời điểm này các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước phải chuyển sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp dưới dạng công ty TNHH một thành viên. Người ta hy vọng rằng, chuyển sang công ty TNHH một thành viên, “cái van” giữa “hai bình thông nhau” – ngân sách nhà nước và ngân sách doanh nghiệp, sẽ được lắp đặt và khóa lại. Và như thế chúng ta đã xóa bỏ tính trách nhiệm vô hạn của doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước. Nhưng thực tế lại không diễn ra như Luật Doanh nghiệp mong muốn. Bởi Chính phủ hay Thủ tướng chính phủ cùng một lúc đóng ba vai trò như nêu ở trên, nên có đủ thẩm quyền ra quyết định chia Vinashin thành ba, như ta đã thấy.

Khi phần lớn các doanh nghiệp con của Vinashin được chuyển sang PetroVietNam và Vinalines, chắc chắn, hai tập đoàn doanh nghiệp này sẽ phải dùng ngân sách của mình để tiếp tục cung cấp vốn cho các doanh nghiệp con vừa tiếp nhận. Điều đó có nghĩa là, thay vì phần lợi nhuận của hai tập đoàn này (nhất là PetroVietNam do bán tài nguyên thô nên lợi nhuận rất nhiều) sẽ được nộp vào ngân sách nhà nước, thì nay phải trích ra một khoản không nhỏ để cung ứng vốn cho các doanh nghiệp con vừa tiếp nhận từ Vinashin. Vì thế, về thực chất, ngân sách nhà nước vẫn tiếp tục cung ứng thêm vốn cho Vinashin, nhưng được “che đậy” bằng cách như nêu ở trên.

Cái “van” tuy được lắp đặt giữa “hai bình thông nhau” – ngân sách nhà nước và ngân sách doanh nghiệp, nhưng Chính phủ hay Thủ tướng chính phủ có quyền “mở van” bất kỳ lúc nào. Doanh nghiệp 100% vốn nhà nước vẫn là doanh nghiệp trách nhiệm vô hạn, chứ không phải TNHH. Vì vậy, chắc mọi người đều rõ, xét về mặt pháp lý, để khắc phục tình trạng này, luật pháp cần được sửa đổi như thế nào, tư duy của những người làm luật và thi hành luật cần được thay đổi ra sao?

Bài học quản lý: Quy mô của Vinashin là quá lớn so với năng lực quản lý với hơn 200 doanh nghiệp thành viên, hàng trăm ngàn tỉ đồng vốn kinh doanh, trải trên địa bàn rộng suốt từ Bắc đến Nam. Tình trạng “quá tải” trong quản lý như vậy sẽ dẫn đến thua lỗ là đương nhiên.

Nhưng tại sao Vinashin lại “to” lên đến mức như vậy chỉ trong vòng chưa đầy năm năm? Bởi Vinashin ra đời theo một quyết định hành chính của Thủ tướng Chính phủ, không theo quy luật tích tụ và tập trung tư bản của kinh tế thị trường.

Một tập đoàn kinh tế (tập đoàn doanh nghiệp) được hình thành trong một thời gian dài, là kết quả của quá trình tích tụ và tập trung tư bản, lớn dần theo năng lực quản lý của chính nó. Một doanh nghiệp ăn nên làm ra, thì lợi nhuận, sau khi đã dành một phần cho chủ sở hữu sử dụng, sẽ được chủ sở hữu quyết định tái đầu tư. Nhưng đầu tư vào đâu? Đầu tư vào chính nó thì sẽ gặp các nguy cơ: (i) quy mô kinh doanh quá lớn so với năng lực quản lý của một doanh nghiệp (quá tải trong quản lý) sẽ dẫn đến suy giảm hiệu quả kinh doanh; (ii) tăng khả năng rủi ro vì “tất cả các quả trứng đều được để vào trong một giỏ”; (iii) cung – cầu về mặt hàng mà doanh nghiệp đang kinh doanh sẽ bão hòa hay cung lớn hơn cầu, dẫn đến giảm hiệu quả kinh doanh hay thua lỗ.

Vì thế, để tránh ba nguy cơ trên, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ được đầu tư vào những lĩnh vực khác, ở những vùng kinh tế khác, bằng cách lập các doanh nghiệp mới với tư cách là doanh nghiệp con, dưới hình thức công ty TNHH một thành viên, nhiều thành viên, công ty cổ phần, hay bằng cách mua lại phần vốn của các doanh nghiệp đang hoạt động, đến mức có thể chi phối, biến nó thành doanh nghiệp con. Doanh nghiệp đầu tư vốn đóng vai trò chi phối trở thành doanh nghiệp mẹ. Doanh nghiệp bị mua lại thường là doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, buộc phải rao bán trên thị trường, hay công ty cổ phần đã niêm yết cổ phần (công ty đại chúng).

Như vậy, các doanh nghiệp con vẫn là một thực thể pháp lý, hoạt động tự chủ trên thương trường theo luật pháp và quyết định của chủ sở hữu vốn, không cần có sự “quan tâm” thường xuyên của công ty mẹ – chủ sở hữu phần lớn số vốn sở hữu chủ ở các doanh nghiệp con. Do vậy, cả công ty mẹ và công ty con cũng phát triển theo quá trình tăng vốn và năng lực quản lý của cả tập đoàn doanh nghiệp nên không rơi vào tình trạng “quá tải” trong quản lý. Và do đó, tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, không phải là một thực thể pháp lý, không có ai ra quyết định thành lập, không có “ngày sinh tháng đẻ”.

Còn các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam, theo quy định của Chính phủ, đột nhiên phải thu gom hàng chục, thậm chí hàng trăm doanh nghiệp con. Các doanh nghiệp này từ trước đến giờ “không quen biết” gì nhau, nằm ở rải rác khắp nơi, nay cùng “chui” vào một “rọ quản lý” của tập đoàn. Chuỗi quản lý hành chính kéo dài vô lý với 5-6 cấp trung gian, nên tình trạng quan liêu, “quá tải” trong quản lý đương nhiên xảy ra phổ biến. Ví dụ, tập đoàn công nghiệp cao su có chuỗi quản lý dài tới 5-6 cấp: tập đoàn, tổng công ty, công ty, nông trường (hoặc nhà máy chế biến), đội (hay phân xưởng), tổ (hay ca, kíp).

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp là đơn vị tự chủ kinh doanh theo pháp luật và ý chí của chủ sở hữu, thể hiện qua quyền quyết định kinh doanh mặt hàng gì, quy mô kinh doanh lớn, nhỏ thế nào, mua nguồn lực đầu vào của ai, bán sản phẩm (đầu ra) của doanh nghiệp cho ai, theo giá cả và phương thức thanh toán ra sao… Do đó, không có doanh nghiệp cấp trên – doanh nghiệp cấp dưới theo thứ bậc hành chính như trong các tổ chức khác mà ta thường thấy. Bởi vì, nếu tập đoàn hay tổng công ty với tư cách là doanh nghiệp có quyền quyết định những vấn đề nêu trên thì các thành viên của nó, tuy được gọi là doanh nghiệp con, sẽ không có những quyền đó nữa, nên không còn là doanh nghiệp trên thực tế và tập đoàn, tổng công ty trở thành cấp trên của các doanh nghiệp thành viên.

Trong các tập đoàn kinh tế nhà nước và tổng công ty nhà nước, về mặt pháp lý, tập đoàn, tổng công ty và các doanh nghiệp thành viên đều là những pháp nhân có quyền tự chủ kinh doanh, nên mâu thuẫn, xung đột quyền lực, quyền lợi trong các tổ chức này mang tính cấu trúc, làm cho hiệu quả kinh tế chắc chắn không thể cao, nếu không muốn nói là thua lỗ. Do vậy, hiệu quả kinh doanh thấp của các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước cũng mang tính cấu trúc, do chúng được thành lập và hoạt động một cách phi thị trường.

Bài học tài chính: Đối với doanh nghiệp tư nhân nói chung, dù tồn tại dưới hình thức nào, doanh nghiệp TNHH hay doanh nghiệp trách nhiệm vô hạn, lợi nhuận sau thuế thuộc quyền sở hữu và định đoạt của chủ sở hữu (hay các chủ sở hữu). Còn đối với doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam bấy lâu nay, lợi nhuận sau thuế do ai định đoạt? Lợi nhuận sau thuế đương nhiên là do chủ sở hữu là nhà nước định đoạt, nhưng chế độ tài chính hiện hành lại “giao quyền tự chủ” cho doanh nghiệp mà cụ thể là người đứng đầu doanh nghiệp như chủ tịch hội đồng quản trị và hội đồng quản trị, chủ tịch công ty hay tổng giám đốc (giám đốc).

Vì lẽ đó, các doanh nghiệp nhà nước có lợi nhuận cao – mà phần lớn nhờ những ưu đãi về chính sách tín dụng, thuế, đất đai, hay vị trí độc quyền kinh doanh, do lợi thế kinh doanh của các ngành khai thác tài nguyên như dầu khí, hay do thị trường như trồng cao su, chứ không phải do năng lực quản lý cao mang lại – đã “phát huy tính năng động, tự chủ” bằng cách sử dụng lợi nhuận sau thuế đem đi đầu tư sang cả những lĩnh vực “sở đoản”, nhiều rủi ro như chứng khoán, ngân hàng, bất động sản, mà ta đã thấy. Cũng trong khuôn khổ đó, PetroVietnam và Vinalines sẽ sử dụng lợi nhuận và có khi cả vốn của mình để nuôi “mấy đứa con ốm yếu” vừa tiếp nhận từ Vinashin.

Do vậy, nguồn thu của ngân sách nhà nước bị thiếu hụt, trong khi nợ công ngày càng tăng cao. Cuối cùng, nguồn thu ngân sách nhà nước chỉ còn trông chờ chủ yếu từ thuế thu đối với doanh nghiệp dân doanh và thuế thu nhập cá nhân, tức là thu từ người dân (doanh nghiệp dân doanh cũng là của dân). Ấy vậy, ngân sách nhà nước lại phải cung ứng cho những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ như Vinashin dưới nhiều hình thức, cấp vốn, bảo lãnh tín dụng, cho vay bằng cách phát hành trái phiếu chính phủ…

Tất cả những khiếm khuyết của doanh nghiệp nhà nước, mà Vinashin chỉ là một ví dụ điển hình, khiến người ta phải xem xét lại “vai trò chủ đạo” của doanh nghiệp nhà nước. Xét về lâu dài và toàn cục, không một nước nào có doanh nghiệp nhà nước làm ăn hiệu quả hơn doanh nghiệp dân doanh.

Doanh nghiệp nhà nước chỉ hoạt động tạm thời ở một không gian nhất định, trong một lĩnh vực nào đó mà tư nhân chưa đầu tư vì hiệu quả kinh doanh thấp, với quy mô hợp lý vì mục đích phát triển kinh tế – xã hội quốc gia. Khi điều kiện chín muồi, tư nhân sẵn sàng đầu tư vào những lĩnh vực và vùng lãnh thổ này thì nhà nước phải rút vốn đầu tư của mình ra để chuyển sang các lĩnh vực và vùng lãnh thổ cần thiết khác để phát triển kinh tế – xã hội quốc gia, bằng các hình thức tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước.

http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/37255/

Nguyễn Minh Phong: Nhìn lại khu vực kinh tế nhà nước từ con tàu Vinashin (trích)

Huỳnh Phan thực hiện-Tuần Việt Nam 15/7

- Xin cho biết quan điểm của ông về vai trò của khu vực kinh tế nhà nước, trong đó DNNN đóng vai trò đầu tàu dẫn dắt nền kinh tế?

Chúng ta cứ nói rằng trong nền kinh tế DNNN là chủ đạo, nhưng điều này gây tranh cãi rất lớn. Người ta hoàn toàn có thể đặt vấn đề khác đi, khi nói rằng vai trò DNNN rất quan trọng. Như vậy, dễ nghe hơn nhiều, và cũng tạo ra dư địa để tìm ra cái vai hợp nhất cho các diễn viên DNNN đóng.

Theo cách đặt vấn đề đó, chúng ta có thể đưa ra những gợi ý rằng DNNN có vai trò quan trọng ở những lĩnh vực nào. Nếu để giúp nhà nước giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong khi xây dựng nền kinh tế thị trường, hay để phát triển những lĩnh vực nhằm đảm bảo đời sống xã hội, DNNN không phải là doanh nghiệp kinh doanh theo mục đích thương mại tự thân. Bởi lợi ích, lợi nhuận, thị trường không phải lợi ích tự thân của DNNN.

Theo tôi, DNNN có mục đích làm đối trọng với độc quyền của tư nhân, nhất là với những doanh nghiệp tư nhân quá mạnh có thể cấu kết với nhau để thao túng thị trường theo kiểu độc quyền.

Thứ hai, DNNN phải tham gia vào những lĩnh vực mà tư nhân không muốn làm, chẳng hạn đầu tư phát triển vùng sâu vùng xa, nhằm đảm bảo đời sống xã hội ổn định ở những chỗ đó.

Thứ ba, DNNN có thể tham gia vào những lĩnh vực có rủi ro mà các khu vực kinh tế khác chưa dám làm, để tạo cú hích cho xã hội.

Thứ tư là đầu tư trong những lĩnh vực độc quyền của nhà nước như sản xuất vũ khí, hay khai thác vàng ở những vị trí nhạy cảm với an ninh quốc gia…, hoặc, chẳng hạn, kinh doanh nhà tù.

Qua đó, theo tôi, DNNN không thể nhân danh vì lợi ích thị trường mà họat động, cạnh tranh như nhữnng doanh nghiệp bình thường khác. Bởi DNNN được hưởng rất nhiều ưu đãi về tín dụng, đất đai và quyền kinh doanh. Nếu họ muốn họat động theo kiểu thị trường canh tranh bình đẳng, những ưu đãi trên phải bị xóa bỏ.

Nếu làm rõ được điều này, chắc chắn Việt Nam sẽ loại bớt được nhiều doanh nghiệp trong khu vực nhà nước, từ chiếm tỷ trọng 80% trong nền kinh tế xuống chỉ còn 10-20% thôi, thậm chí thấp hơn.

Nói tóm lại, vai trò của doanh nghiệp nhà nước, họat động chủ yếu bằng tiền thuế thu từ xã hội hay tiền bán tài nguyên chung của đất nước, dứt khoát phải làm nhiệm vụ cân đối và phân bổ lại các lợi ích cho xã hội.

- Theo ông, việc đầu tư tràn lan vào các dự án của một tập đoàn kinh tế nhà nước như Vinashin tại sao lại diễn ra dễ dàng và nhanh chóng như vậy?

Vinashin quá lợi dụng sự phát triển đa ngành để đầu tư lung tung. Trong bối cảnh tham nhũng phát triển, lý tưởng bị suy giảm, và cơ chế còn nhiều lỗ hổng, chính việc đầu tư tràn lan là những cơ hội để lợi dụng bỏ tiền nhà nước vào các dự án. Bởi lãnh đạo của các tập đoàn kinh tế nhà nước, như Vinashin, là những người được bổ nhiệm có thời hạn và theo lẽ tự nhiên, họ phải thông qua càng nhiều dự án càng tốt, và càng thu lợi cho cá nhân nhiều hơn.

Câu chuyện cốt lõi nằm ở chỗ chính phủ cho họ trở thành tập đoàn, được phép kinh doanh đa ngành một cách ồ ạt thiếu sự chuẩn bị cả về mặt pháp lý lẫn kinh nghiệm. Chẳng riêng gì Vinashin các tập đoàn kinh tế nhà nước khác đã đầu tư hàng trăm ngàn tỷ, theo kết luận của kiểm toán nhà nước được công bố hàng năm từ 2007 tới nay vào những dự án kiểu này.

Việc nhân danh đầu tư đa ngành để đầu tư vào những dự án chưa có luận chứng kinh tế đầy đủ là một trong những nguyên nhân khiến không ít các tập đoàn kinh tế nhà nước bị thua lỗ nặng. Nhưng, về nguyên tắc, đầu tư đa ngành là điều tất yếu, bởi thị trường luôn mở ra những cơ hội mới, sân chơi mới cho doanh nghiệp hoạt động chưa hết công suất, hay phát hiện ra cơ hội lợi nhuận lớn.

Nhưng mặt khác, đây là câu chuyện thương mại, câu chuyện lỗ lãi, nên đòi hỏi tính chuyên nghiệp và tính trách nhiệm rất cao. Đất này không dành cho những kẻ tay mơ, cứ tưởng tàu mình đóng lướt sóng tốt là mình “lướt sóng” chứng khoán cũng ngon.

- Theo qui định, tập đoàn do thủ tướng chủ quản, và thủ tưởng giao cho các cơ quan chính phủ dưới quyền thực hiện việc giám sát và kiểm soát. Trong trường hợp Vinashin, có hai bộ giữ vai trò kiểm soát và giám sát rất rõ ràng. Vậy vai trò của Bộ GTVT và Bộ Tài chính ở đâu khi xảy ra những sai phạm liên tục ở tập đoàn này?

Vinashin chịu trách nhiệm trước thủ tướng, các bộ cũng chịu trách nhiệm trước thủ tướng. Vậy cho nên cũng chẳng ông nào hơn ông nào, mà thực hiện quyền nọ quyền kia với nhau.

Riêng về Bộ Tài chính, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) không phát huy đầy đủ vai trò mà lẽ ra nó phải thể hiện, tức là quản lý nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước, mà chỉ mới là anh kế toán ghi sổ sách. Vì vậy, có nêu ý kiến, kiến nghị gì cũng dễ dàng bị bác luôn.

Có lẽ điều duy nhất SCIC có vai trò trong vụ Vinashin là thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo chính phủ mua lại với giá gốc phần đầu tư của tập đoàn này vào chứng khoán Bảo Việt, mặc dù giá thị trường đang rất thấp. Người ta nói rằng việc SCIC bỏ lơ việc quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp khiến cho nhiều DNNN còn họat động kém hơn thời họ chưa thành lập, bởi chức năng này lúc đó đã có bộ phận khác lo.

Còn về Bộ Công Thương, về nguyên tắc, là bộ chủ quản. Nhưng hoạt động của DNNN, trong đó có các tập đoàn kinh tế, lại tuân theo các luật và qui định khác nhau, và ít nhiều có tính độc lập so với bộ chủ quản. Bản thân luật cũng có nhiều kẽ hở, hay nói cách khác là có cách hiểu khá thoải mái và tùy tiện, tiện cho việc xuê xoa hay phớt lờ vì ngại va chạm hay vì lợi ích cá nhân.

Khi thành lập tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam, một trong những điều được nhân danh là để phát triển những ngành khác, nhất là công nghiệp cơ khí. Tuy nhiên, ngành công nghiệp cơ khí không nhận được sự lan toả đó. Thưa ông, vì sao? Bởi điều này cũng đúng với nhiều tập đoàn khác, khi không đảm đương được vai trò dẫn dắt các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế cùng phát triển?

Lẽ ra, các doanh nghiệp cơ khí trong nền kinh tế phải được liên kết trong một chuỗi, nhưng thực tế, tự Vinashin đẻ thêm ra những công ty mới, những dự án mới, và sự liên kết đó nằm bó gọn trong Vinashin. Bản thân Vinashin cũng không phải tạo ra sức liên kết, lan tỏa với ngay cả các DNNN khác, nói gì đến tư nhân. Bởi, theo những gì tôi tìm hiểu, mục đích chính của họ dường như không phải là sự lan tỏa đó, mà nhu cầu giãn nợ, nhu cầu huy động thêm vốn. Các dự án, doanh nghiệp mới chính là cái cớ rất tốt.

Lẽ ra, DNNN phải có vai trò rất lớn trong việc tạo ra các mối liên kết, trong ngoài, trên dưới, để tạo ra một chuỗi phát triển, nhất là cạnh tranh để tham gia chuỗi giá trị của toàn cầu. Nhưng vai trò của Vinashin và các tập đoàn kinh tế nhà nước khác là hầu như không có. Toàn bộ tư duy dự án, thời vụ, tư duy của lãnh đạo theo nhiệm kỳ, hay nói gọn là tư duy lợi ích chụp giật, đã lấn át và áp đảo tất cả các tư duy kinh tế khác, như dài hạn, liên kết và hiệu quả.

Việc sinh đẻ tràn lan các công ty con trong các tập đoàn kinh tế nhà nước, điển hình là Vinashin với thêm 200 công ty mới được thành lập, liệu có bóng dáng của những vụ đã xảy ra trong khu vực kinh tế tư nhân trước đây hay không? Tức là hàng loạt công ty con được thành lập, giám đốc được bổ nhiệm lung tung, chỉ cốt để đi vay tiền ngân hàng?

Tôi chưa có nghiên cứu sâu về tên và bức tranh họat động kinh tế của 200 công ty đó. Nhưng rõ ràng việc lập ra 200 công ty mới, thay vì mở rộng sự liên kết với bên ngoài, và cũng không có nhiều sự hỗ trợ cho công ty mẹ phát triển hoàn toàn có thể dẫn tới suy luận logic như anh.

- Người ta nói, ở nước ngoài, quá trình thành lập tập đoàn là quá trình tự nhiên. Người ta phải mở thêm những ngành mới, chủ yếu các đối tác làm ăn lâu dài với nhau tự nhiên thấy cần phải đầu tư vốn để mở rộng sản xuất – kinh doanh, và tạo liên kết cho chặt. Liệu cái cách thành lập tập đoàn theo mệnh lệnh hành chính của Việt Nam chính là nguyên nhân của cơ sự bây giờ không?

Chúng tôi cũng nghiên cứu về vấn đề này. Ở nước ngoài, hình thức thành lập tập đoàn theo nhu cầu kinh tế, tức là các doanh nghiệp có liên hệ với nhau về sản phẩm và thị trường có nhu cầu liên kết với nhau để hình thành sự phân công chuyên môn hóa, hợp tác hóa, hoặc đầu tư lẫn nhau, để cùng tồn tại và phát triển tốt hơn.

Cái cách của Việt Nam cũng chẳng phải không giống ai đâu. Ở nước ngoài cũng tồn tại hình thức này. Có điều, chủ yếu ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ, và hiệu quả của chúng thế nào anh biết rồi đấy (cười).

Hàn Quốc dưới thời Pak Chung-hee, đã có những tổ chức chaebol rất mạnh theo nghĩa đó, tức là vốn được vay theo bảo lãnh của chính phủ, lỗ được cấp bù, họat động theo sự chỉ đạo chung của chính phủ. Tuy xuất thân của chúng là những công ty gia đình.

Nói gì thì nói, những chaebol này đã tạo ra xương sống nền kinh tế, tuy sau đó bị thất bại. Có điều, sau một cú sốc, họ đã tái cấu trúc lại, cái nào tệ quá thì bỏ đi, và bây giờ chaebol phát triển mạnh hơn.

Việt Nam đã đến lúc phải như vậy. Cần tái cấu trúc lại với sự tham gia của các thành phần kinh tế khác nhiều hơn, với định hướng kinh tế rõ ràng hơn, và hoạt động lành mạnh hơn, thị trường hơn.

Tôi nghĩ tập đoàn kinh tế nhà nước của Việt Nam được hình thành trên một nhận thức tiên tiến về mô hình phát triển, nhưng bước đi và mô hình ban đầu vẫn bị mơ hồ quá. Tức là chúng ta làm một cái mới mà để quán tính và lợi ích cũ chi phối nhiều quá. Hay nói cách khác, con tàu mà chúng ta đang đi, tuy có cái vỏ mới, nhưng máy móc, thiết bị trên tàu đã quá đát rồi.

Sau vụ tái cấu trúc Vinashin, cũng có luồng ý kiến hy vọng rằng nhà nước sẽ có sự nhìn nhận lại vai trò và cấu trúc của tập đoàn và biết đâu sẽ tìm ra hướng phát triển các tập đoàn đúng đắn hơn. Bởi dù sao thực thể kinh tế này đã tồn tại, bất chấp sự phản đối, phản biện của nhiều người. Chẳng hạn, trước mắt, để biến thành quả đấm thép, bàn tay phải nắm chặt lại trong ngành kinh doanh lõi, thay vì xòe hết các ngón tay ra trong sự kinh doanh đa ngành?

Chẳng qua đây là chuyện họ bất đắc dĩ phải làm, nếu không thì hậu quả còn vô cùng nghiêm trọng. Chứ báo động đỏ có từ năm 2007 cơ mà. Và với tư duy đó của họ, tôi không mấy lạc quan về tương lai. Một khi chủ thuyết phát triển chưa thay đổi, bộ giá trị chuẩn chung của anh chưa được điều chỉnh thích ứng, và hợp lý hóa, và cơ chế vẫn như cũ, vẫn sẽ có tiếp tục những Vinashin Đệ Nhị, Đệ Tam, đến Đệ N.

Việc tách Vinashin làm ba, theo tôi hiểu, nhận thức của nhà nước vẫn chưa thay đổi. Việc Vinashin đăng ký mấy chục lĩnh vực đầu tư từ xuất nhập khẩu, resort đến sản xuất bia, trong đề án tái cơ cấu mới nhất, các nhà lãnh đạo có thẩm quyền vẫn cho phép Vinashin đăng ký lại. Nhưng hoạt động quan trọng nhất của tập đoàn này là đóng tàu thì lại bị xé ra đưa sang chỗ khác.

Đành rằng, chuyển vận tải biển sang Vinalines là có vẻ hợp lý, khi tập đoàn này chuyên về vận tải biển. Nhưng anh giải thích với tôi thế nào về việc chuyển một phần đóng tàu, mặc dù họ nói là đóng tàu dầu sang Petro Vietnam cho có vẻ hợp lý, chuyên về khai thác dầu khí? Theo tôi, đây chỉ là câu chuyện xiết nợ.

Tôi vẫn nghiêng về quan điểm rằng việc tái cấu trúc lại Vinashin không phải nhằm tạo ra một tập đoàn đóng tàu mạnh, mà chỉ để gỡ cho một thực thể kinh doanh đang bị vỡ nợ. Nhưng kèm theo đó, họ lại đặt nền móng cho một Vinashin đệ nhị có tên là Petro Vietnam – hiện vẫn khả dĩ được coi là họat động lành mạnh.

http://tuanvietnam.net/2010-07-15-nhin-lai-khu-vuc-kinh-te-nha-nuoc-tu-con-tau-vinashin

Luật gia Nguyễn Ngọc Bích: Tập đoàn: Mắc mứu giữa sở hữu vốn và sử dụng vốn

Tuần Việt Nam 15/7

Từ các điều trình bày ở trên liên hệ với thực tế của các tập đoàn ở mình ta thấy gì? Tôi thấy có bốn điểm.

Một, sự hình thành các tập đoàn nhà nước ở ta trái quy luật tự nhiên.

Hai, quản lý xí nghiệp ở ta chăm chú vào sự kiểm soát từ bên ngoài mà không coi trọng việc kiểm soát tự bên trong công ty. Người ta sẵn sàng tuân giữ quy định do chính họ đặt ra; nhưng sẽ né tránh quy định từ bên ngoài áp vào họ. Bộ Tài chính nói rằng từ nay sẽ kiểm soát tập đoàn chặt chẽ hơn thì không biết chặt chẽ về lãnh vực nào và bằng cái gì khi không có các thứ đã nêu.

Ba, các tập đoàn hiện đang hoạt động cần phải xem lại là mình và các công ty con của mình đã quản trị theo khoa học chưa. Nếu chưa thì phải chuyển đổi càng sớm càng tốt vì đó là điều kiện bắt buộc nếu muốn… an  toàn. Quản trị khoa học dễ thực hiện trong các công ty dịch vụ, vì chỉ có một thành phần là nhân sự; nhưng sẽ khó trong các công ty sản xuất, vì nó có nhiều thành phần, người, máy móc, nhà xưởng…

Muốn xem lại mình thì chỉ tìm xem trong nội bộ công ty có cách kiểm soát với các công cụ hỗ trợ chưa. Sự chuyển đổi quản trị từ thuận tiện sang khoa học của doanh nghiệp nhà nước dễ hơn tư nhân; vì tiền không phải là của một người nhất định nên không có những tình cảm riêng tư.

Tập đoàn Vinashin đã được quản trị theo sự thuận tiện. Do đó, ông chủ tịch kiêm tổng giám đốc đã mua sắm tài sản nhiều tiền mà hội đồng quản trị không biết; báo cáo tài chính sai mà bây giờ mới thấy; đưa con cái anh em nắm giữ các công ty… thì đó là các bằng chứng. Trong vòng có ba năm mà lập ra hơn 200 công ty thì chính là nhờ tiền được cấp phát và đi vay, nên không đếm xỉa gì đến hiệu quả đầu tư. Điều này không thể xảy trong một công ty được quản trị theo khoa học.

Bốn, mắc mứu giữa sở hữu vốn và sử dụng vốn. Sở hữu vốn không còn là vấn đề nếu các công ty nhận tiền được quản trị theo khoa học. Ta xem gốc gác của vấn đề một tí. Doanh nghiệp của tư nhân khi kinh doanh họ phải xót đồng tiền của mình; nên họ tự đặt ra cách thức kiểm soát hữu hiệu. Quản trị theo khoa học là một cách thức. Sau này, chủ nhân nghỉ, giao tiền bạc cho người làm thuê; nhưng họ bắt người sau phải làm theo cách quản trị kia. Vậy người làm thuê cũng làm ăn lời lãi như người chủ nhờ cách thức quản trị.

Thật vậy, đối với doanh nghiệp, người giao vốn hỏi: “Nó có khả năng trả nợ đáo hạn không?” Tìm câu trả lời, xin xem bản cân đối. Đối với người làm thuê, thì chủ hỏi: “anh có làm đúng quy định tôi đưa không?”, “anh có sử dụng tiền đúng như tôi đã bảo không?”, và “anh làm việc có đạt mục tiêu tôi giao không?”. Kết cục là: “anh làm được tôi giữ anh, làm sai mời anh từ chức”.

Trong cách quản lý xí nghiệp ở ta, mọi thứ đều từ bên ngoài đưa vào doanh nghiệp. Người giao vốn, chưa hề làm chủ trong cơ sở như chủ tư nhân; nên họ không quy định điều gì từ bên trong. Khi giao vốn cho một giám đốc xí nghiệp – cũng là người làm thuê được đưa vào – thì giám đốc tha hồ vùng vẫy và biến tấu con số!

Cách quản lý mà chúng ta đã từng áp dụng đặt ra được các câu hỏi gì cho các giám đốc nhà nước? Nhìn sang chỗ khác, ta có nghe thấy Unilever bao giờ nêu vấn đề sở hữu vốn của họ ở Việt Nam không? Vì không kiểm soát được hiệu quả của đồng tiền sử dụng, nên mới mắc mứu về sở hữu vốn, rồi về nhiệm kỳ của người phụ trách sở hữu vốn! Càng ngày càng đi xa một vấn đề cốt lõi.

Khắc phục

Nhìn lại một cách công bằng, ta thấy Vinashin đã nảy sinh và tồn tại trong khung cảnh của một sự hiểu biết sai lầm, thiếu thốn về kiến thức lẫn phương pháp của chính nó và – quan trọng hơn – của môi trường quanh nó.

Về điểm sau, tôi xin thêm là cách quản trị khoa học phổ biến ở các nước phát triển và nó đã hoàn thiện từ cuối những năm 1960 (với kế toán quản trị và giám đốc tài chính). Các chuyên gia ở ta am tường về quản trị; nhưng là cách quản trị tiên tiến và hiện đại! Lý do là họ chỉ đi sang các nước Tây phương nhiều từ sau 1995. Khi ấy, các cơ sở huấn luyện bên kia không còn dạy cách quản trị theo khoa học nữa; vì họ phải sửa soạn cho sinh viên của mình đương đầu với những vấn đề của tương lai; chứ ai lại đi thảo luận về những đề tài của năm 1960. Tôi xin đưa ra một sự kiện. Tôi không thấy có nơi nào ở ta có giáo trình dạy cách làm bản ngân sách điều hành trong quản trị kinh doanh. Về ngân sách đầu tư thì có và nó lẫn trong các giáo trình về quản trị tài chính hay về quản trị dự án. Khó tìm thấy sách dạy về cách lập ngân sách điều hành kể cả ở Mỹ. Nếu có thì rất sơ lược. Lỗ hổng về quản trị kinh doanh của ta là ở đó.

Trở lại vấn đề. Các công ty đa quốc hiện vẫn đang tồn tại và phát triển. Chúng làm cho giá thành sản phẩm rẻ hơn và ưng ý với người sử dụng hơn. Họ chính là các tập đoàn. Tập đoàn là kết quả và là nguyên nhân của nguyên lý “sản xuất nhiều giá thành rẻ”. Bởi thế, định hướng thành lập tập đoàn ở ta là đúng và cần thiết.

Nhưng muốn cho Vinashin thêm tiền; muốn thúc đẩy tập đoàn thì phải làm 2 việc. Đó là, mỗi công ty phải được quản trị theo khoa học. Và, phải để 1 Cty hoạt động hữu hiệu và hiệu quả tạo lập ra các cái khác; chứ không làm ngược lại. Việc thành lập và điều hành tập đoàn như cách chúng ta đã làm là 1 sai lầm.

Giao cho SCIC nắm vốn thì cũng chẳng giải quyết được; vì kiểm soát cái gì và đủ người làm không? Vinashin là một bài học rất đắt! Rất đắt vì vài năm trước đây, nhiều chuyên gia đã bàn về nó. Riêng về đề tài quản trị này, thì cách đây khoảng 5 năm tôi đã trình bày tại Sầm Sơn cho một số vị trong Ban Đổi mới Doanh nghiệp Trung ương. Và tất cả đã bay theo gió! Chỉ có Vinashin ở lại!

http://tuanvietnam.net/2010-07-13-de-khong-con-mot-vinashin-2

Lê Trọng Nhi: Chiếc tàu Vinashin đưa Việt Nam quay lại CLB Paris và London?

SGTT 18/7

Năm 2010 với một Vinashin và đâu đó tiềm ẩn nếu có thêm vài Vinashin trong vài năm kế tiếp thì con tàu kinh tế Việt Nam sẽ có nguy cơ phải quay đầu trở lại với Câu lạc bộ Paris và Câu lạc bộ London thêm một lần nữa.

Chào London-hẹn Paris?: Ngày 30.6.2010, sau 12 năm 6 tháng, “chiếc tàu” Vinashin chính thức phát những tín hiệu cấp cứu. Tín hiệu cấp cứu của Vinashin tại thời điểm này, không chỉ là tín hiệu cấp cứu muộn màng đối với Vinashin mà còn là tín hiệu cảnh báo chung đối với cả đoàn tàu kinh tế Việt Nam

Năm 2010 với một Vinashin và đâu đó tiềm ẩn nếu có thêm vài Vinashin trong vài năm kế tiếp thì con tàu kinh tế Việt Nam sẽ có nguy cơ phải quay đầu trở lại với Câu lạc bộ Paris và Câu lạc bộ London thêm một lần nữa.

Nhầm lẫn hoặc sai lầm?: Tuần trước, ông bạn LS Nguyễn Ngọc Bích có 2 bài viết trên Tuần Việt Nam, theo tôi hiểu, luật sư Bích nhận định sự hình thành và phương cách hoạt động của Vinashin là nhầm lẫn và ngộ nhận. Vinashin nhầm lẫn trình độ quản trị khoa học và quản trị thuận tiện, nhầm lẫn giữa sở hữu vốn và sử dụng vốn, nhầm lẫn chính mình. Những nhận định này chỉ tạm đúng ở phần hình thức và một phần nội dung của những phương án kinh doanh, nhưng chưa đủ và chưa thực đúng với bản chất cốt lõi của vấn đề.

Theo tôi, đó là một sai lầm, một sai lầm rất lớn. Ngay khi bắt đầu đã sai lầm lớn và từ đó nảy sinh ra hàng loạt sai lầm khác. Nhầm lẫn và sai lầm hay sai phạm là rất khác nhau.

Sự việc đã vỡ rồi và những tín hiệu SOS bên ngoài về Vinashin trước đây cũng đã xong rồi. Lúc này với những cách nhìn tích cực và chuyên môn, chúng ta cần lắng nghe và chắt lọc những tín hiệu SOS mới của Vinashin và về Vinashin như thế nào và có những hành động thích ứng gì?

Có ít nhất hai sai lầm cơ bản cần ghi nhận và hai hành động thích ứng cần được thực hiện.

Hai sai lầm cơ bản: Nghe và lắng nghe: Sai lầm cơ bản đầu tiên là vì chỉ nghe chứ không lắng nghe. Vinashin đã không lắng nghe là dễ hiểu, nhưng giới thẩm quyền quản lý cấp trên cũng chỉ nghe từ Vinashin và không lắng nghe chung quanh và bên ngoài Vinashin, mới là điều thật đáng quan ngại và quan tâm. Chính với sai lầm không lắng nghe đó, cho nên từ ngày 15.5.2006, đã cho phép hình thành một Vinashin thí điểm và thử nghiệm và không có một bộ khung quản lý, giám sát và chế tài khả dĩ. Một Vinashin được phép điều hành theo phương án thí điểm và phương pháp thử nghiệm có quyền sai, có quyền nhầm lẫn và có quyền vượt quyền trong suốt 4 năm phát triển với độ nóng đến bốc hơi: 200 công ty con – cháu – chắt – chút – chít, những khoản nợ trên 4 tỉ USD khi nền kinh tế luôn thiếu và khát vốn. Nghe chứ không lắng nghe, chính là sai lầm của hầu hết tất cả những sai lầm và hệ quả hiện nay.

Hành động thích ứng với sai lầm này là hãy quay trở lại với lắng nghe và tăng cường những khả năng lắng nghe. Đừng nhầm lẫn khi chỉ nghe những âm thanh rời rạc hoặc chắp nối lủng củng để cho rằng đó là một khúc giao hưởng hoành tráng. Nhưng nếu lắng nghe thì sẽ biết và hiểu rằng đó chỉ là một tấu khúc bị sắp đặt vội vã và cẩu thả, chứ không phải là một phần của một bản giao hưởng hay.

Nghe được âm thanh chỉ cần tai không bị điếc. Lắng nghe âm thanh cần trí não và am hiểu âm thanh. Tai chúng ta đã nghe nhiều, nghe lâu và nghe rất lớn những mớ âm thanh hỗn độn và lộn xộn của Vinashin. Bây giờ chúng ta phải lắng nghe không chỉ bằng tai nhưng phải bằng nhiều tri thức, cảm xúc và lương tâm… để còn có cơ hội sắp xếp lại thành một hoặc những bản giao hưởng kinh tế mà nền kinh tế và xã hội Việt Nam có thể hiểu và thưởng thức được.

Hành động thích ứng: thí điểm dàn trải – thử nghiệm kinh tế: Sai lầm cơ bản kế tiếp là chính sách thí điểm và thử nghiệm kinh tế. Kinh tế học và hầu hết các vấn đề gắn liền với kinh tế không phải là lĩnh vực khoa học thực nghiệm để được thử nghiệm trong những phòng thí nghiệm. Thế mà, chúng ta đã cho phép thí điểm và thử nghiệm không chỉ một Vinashin với kích cỡ quá lớn mà với hàng loạt Vinashin khác cũng với những kích cỡ mà không một phòng thí nghiệm nào có thể kham nổi (ngay cả phòng thí nghiệm của trường Kinh doanh của Đại học Harvard… ngay cả nếu họ có). Kiểu cách thí điểm – thử nghiệm dàn trải hàng loạt với những kích cỡ rất dễ vượt tầm kiểm soát là loại sai lầm nghiêm trọng thường thấy trong cách tư duy và triển khai với khá nhiều chiến lược – kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam.

Lĩnh vực quản trị về kỹ thuật và công nghệ đóng một số chủng loại tàu chuyên dụng và lớn có thể không còn là vấn đề quá lớn và khó để Vinashin học hỏi và tích lũy, nhưng lĩnh vực quản trị về tài chính và thương mại mới là vấn đề và điểm chết. Nhẩm tính cách và nhịp độ giải ngân (mua sắm, chi tiêu, hùn vốn…) của Vinashin trong hai năm 2006 và 2007 khiến tôi nghĩ và tin rằng lĩnh vực quản lý tài chính của Vinashin đã bị Vinashin cũng như bộ Tài chính xem nhẹ và bỏ trống.

Thật sai lầm khi nghĩ rằng một khi nắm bắt và hiểu biết kỹ thuật và công nghệ đóng tàu lớn thì cũng sẽ nắm bắt và hiểu biết tài chính và thương mại quy mô lớn. Những người đang còn mày mò với những con số kế toán cấp trung cấp vài chục triệu USD mà được giao cho những con số tài chính cấp đại và trên đại học vài trăm triệu và vài tỉ USD, thì không khác nào giao súng đạn bom mìn thật cho những đứa trẻ ham thích đồ chơi. Vinashin có lẽ là thế và như thế.

Hành động thích ứng đối với sai lầm này là (i) nhanh chóng chấp nhận và thu nhận những đội ngũ chuyên viên – chuyên gia thứ thiệt và thực thụ trong nước và quốc tế vào những vị trí chuyên môn đặc biệt và quản trị cấp cao; đồng thời cương quyết thu hẹp những lĩnh vực hoạt động kinh doanh trái ngành nghề lõi và cắt bỏ – cắt lỗ những dự án nếu có làm xong cũng không mang lại hiệu quả lâu dài. (ii) Chấm dứt các chính sách thí điểm – thử nghiệm kinh tế và đặc biệt là những thử nghiệm với những khoản vốn vay nước ngòai mà không có bộ khung quản lý – giám sát – chế tài khả dĩ và rõ rệt.

Xin hãy thôi và đừng lạm dụng, nhồi nhét những tư duy và hình ảnh Thánh Gióng vào trong những chiến lược – kế hoạch – chương trình – dự án kinh tế phát triển để cả đoàn tàu kinh tế Việt Nam không bị buộc phải quay đầu trở lại với Câu lạc bộ Paris và Câu lạc bộ London thêm một lần nữa.

http://sgtt.vn/Goc-nhin/125961/Chiec-tau-Vinashin-dua-Viet-Nam-quay-lai-CLB-Paris-va-London.html

P/v TS Vũ Quang Việt: Vụ Vinashin có gây khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam?

Gia Minh thực hiện-RFA 20/7

Biện pháp chuyển nợ của Vinashin sang cho hai tập đoàn khác là PetroVietnam và Vinalines có thể giúp giải quyết tình hình Vinashin hay có thể gây ra những khó khăn khác cho nền kinh tế Việt Nam? Gia Minh nêu vấn đề này ra với tiến sĩ Vũ Quang Việt, cựu chuyên gia Cục Thống Kê Liên hiệp quốc, người luôn theo dõi sát tình hình kinh tế Việt Nam. Trước hết tiến sĩ Vũ Quang Việt nói về biện pháp cứu nguy mà chính phủ Hà Nội đưa ra cho Vinsahin vừa qua.

TS Vũ Quang Việt: Đó là khả năng tình thế thôi cho trường hợp một ‘người’ nợ nhiều mà không có khả năng trả nợ; đặc biệt là nợ nước ngoài. Toàn bộ hệ thống tài chính của Việt Nam sẽ bị đánh giá thấp đi. Vinashin mất khả năng trả nợ nên phải giao Vinashin cho người khác để người ta trả nợ cho. Cách giao là giao cho PetroVietnam và Vinalines. PetroVietnam không có khả năng đóng tàu nhưng được giao vì có tiền. Hậu quả là ngân sách của Việt Nam lâu nay phần lớn nhờ vào đóng góp của PetroVietnam, nay tiền đó mang đi trả nợ thì ngân sách bị ít đi.

Trước đây Vinashin mua chứng khoán của Công ty Bảo hiểm, đầu tư vào thị trường chứng khoán, nay bắt những công ty kia phải mua với giá ban đầu; tức phần lỗ của Vinashin đẩy cho các thành phần khác chịu.

Đó là một vấn đề còn những vấn đề gì khác nữa?

Việc đẩy những hoạt động không phải chuyên môn cho những công ty khác về lâu về dài sẽ gây khó khăn cho chính những công ty đó. Vấn đề đóng những tàu theo hợp đồng đã ký với nước ngoài chưa chắc thực hiện được. Vinashin không có khả năng cung, nên ‘cầu’ trở nên vấn đề; như vậy về dài lâu có thể phải phá sản cho hết những công ty kia thôi.

Một vấn đề nữa là nợ của Vinashin cũng có phần từ các ngân hàng Việt Nam. Các ngân hàng không lấy được nợ sẽ khiến cả hệ thống ngân hàng gặp khó khăn. Trừ phi chính phủ lại in tiền thêm, bơm tiền tín dụng cho các ngân hàng sống còn. Từ đó nền kinh tế bị ảnh hưởng khá lớn không phải nhỏ, không khéo có thể đến khủng hoảng kinh tế. Nhiều vấn đề khác nữa.

Theo ông sau khi áp dụng giải pháp ‘tình thế’ thì còn có hướng nào khác nữa?

Nhìn về dài lâu, nếu cái gì không giải quyết được thì nên cho ‘chết đi’ hay ‘bán đi’. ‘tư nhân hoá’ đi. Nếu tiếp tục sẽ gây thêm vấn đề. Ví dụ Vinashin được giao nhiều đất ở khắp nơi nhưng nay Vinashin không có khả năng trả tiền đất đai nữa; nhiều nơi nông dân không biết làm gì; đất đai không đuợc trả, tiền lại không đuợc trả. Đó là vấn đề xã hội lớn.

Lâu nay đã có kế hoạch cổ phần hoá các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước rồi, theo ông cách thức làm lâu nay có theo đúng huớng để các doanh nghiệp tiến đến hoạt động có hiệu quả ?

Con đuờng của Nhà nước Việt Nam từ thời ông Nguyễn Tấn Dũng lên mắn chức thủ tướng là tạo ra nhiều tập đoàn, xem đó như ‘quả đấm sắt’ để phát triển nền kinh tế; tuy nhiên hệ thống đó lập ra chỉ có lợi cho những cá nhân trong cả hệ thống chính quyền và Đảng vì thế hỏng. Vấn đề tư nhân hoá không phải dễ: cần phải tạo ra sản phẩm gì thì người ta mới mua; phải có lợi nhuận trong tương lai mới có giá trị; còn không tạo ra đuợc giá trị tương lai mà chỉ là những ‘thủ thuật’ như thế, cuối cùng sẽ sụp đổ.

Vinashin đâu có tạo ra sản phẩm. Nhiều tập đoàn nhà nước khác cũng như vậy thôi.

Tình hình u ám như thế, không lẽ phải giải thể hết các tập đoàn đó?

Cách giải quyết tùy mỗi tập đoàn: ví dụ như PetroVietnam có dầu, xăng để bán và trong trường hợp giá còn cao thì không có vấn đề. PetroVietnam có thể làm tốt hơn, nhưng nếu làm xấu đi cũng chưa có vấn đề. Tập đoàn Điện lực, EVN, nhu cầu điện vẫn có đó nên có lỗ bắt buộc nhà nước phải bù lổ. Vinashin thì không có khả năng cung, còn những tập đoàn khác thì ‘cầu’ vẫn có đó, vấn đề là họ độc quyền và định giá để có lợi cho họ thôi.

Ông vừa đề cập đến vấn đề độc quyền, lâu nay nhà nước cũng nói nhiều về điều này, theo ông con đuờng cạnh tranh vẫn chưa thể thực hiện đuợc tại Việt Nam?

Tôi không có đủ hiểu biết về Việt Nam để trả lời câu hỏi này. Chính lãnh đạo Việt Nam họ phải biết rõ tại sao họ không để chuyện đó xảy ra, không đẩy vấn đề đó. Nhiều người giải thích vì quyền lợi của tập đoàn quá lớn, ở khắp mọi nơi. Độc quyền họ mới thu lợi nhiều, có vốn để đẩy ra những lĩnh vực khác, thành lập nhữngdoanh nghiệp nhỏ , thu hồi đất của dân kiếm thêm lợi.

Cả hệ thống chính phủ có lợi, nay yêu cầu thay thế thì khó. Người ta có thể nói miệng nhưng chưa chắc muốn làm như vậy.

Trong thời gian qua, Việt Nam vẫn tự hào về thành quả kinh tế đạt đuợc; điều gì giúp Việt Nam đạt đuợc thành quả đó?

Sau khi vào WTO, lẽ ra Việt Nam có nhiều lợi thế để đi vào kinh tế thế giơí; đầu tư vào Việt Nam nhiều. Tuy nhiên những chính sách sai lầm về tài chính, về ngân hàng, và quá hồ hởi trong phát triển; đặc biệt như trong vấn đề Vinashin và nhiều tập đoàn khác nữa, đã tạo nên lạm phát đến 23- 24% hồi năm 2008. Điều đó làm cho tốc độ phát triển sau đó dừng lại, và đi xuống làm cho nhiều người mất niềm tin, làm cho thị trường chứng khoán tưởng có thể đi lên đuợc trở thàng bong bóng. Cả một hệ thống chính sách làm cho nền kinh tế trở thành bong bóng, thay vì phát triển một cách có hiệu quả và chất luợng. Chính vì vậy đã để cơ hội vuột qua; nay sau những vụ như Vinashin thì có ngân hàng , định chế thế giơí nào dám mua trái phiếu, cổ phiếu của Việt Nam với giá cao như vừa qua nữa hay không.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Sinking-vinashin-in-the-opinion-of-a-foreign-specialist-dr-vu-quang-viet-GMinh-07202010203717.html

Lan Anh: Sự kém cỏi của thị trường nợ

SGTT 30/7

Từ vụ Vinashin tái cơ cấu, một khiếm khuyết đã nổi lên đậm hơn: thị trường nợ Việt Nam chỉ có bán mà không có mua. Chính phủ chỉ phát hành trái phiếu, những tờ giấy ghi nợ, nhưng không chủ động mua lại những khoản nợ ấy khi giá của trái phiếu giảm. Và hoàn toàn thiếu một đội ngũ chuyên viên am hiểu thị trường và nghiệp vụ trên thị trường này…

Năm 2008, khi khủng hoảng tài chính xuất phát từ Mỹ lan rộng toàn cầu, các tập đoàn tài chính bán tháo tài sản ở các thị trường châu Á để lo chống bão, thì Chính phủ Việt Nam đã có cơ hội để giảm khoản nợ trái phiếu 750 triệu huy động cho Vinashin vay xuống còn một nửa. Các loại trái phiếu chính phủ Việt Nam lúc bấy giờ bán với giá chiết khấu còn rất thấp, thậm chí xuống đến dưới 50%. Nhưng Chính phủ không chỉ ngồi yên, không tìm cách mua lại khoản nợ rẻ trời cho này, mà còn “ngăn sông cấm chợ”, không cho các nhà đầu tư trong nước mua.

Có bán có mua, đó là những hoạt động căn bản của thị trường, mà thị trường nợ cũng không phải là một ngoại lệ. Nhưng hiện nay thị trường nợ Việt Nam hoàn toàn chưa phát triển và chỉ có một chiều: Chính phủ chỉ phát hành trái phiếu, những tờ giấy ghi nợ, nhưng không chủ động mua lại những khoản nợ ấy khi giá của trái phiếu giảm. Mua lại nợ ở đây, thực chất là trả nợ trước thời hạn, nhưng với giá thấp như giá trái phiếu ngoại tệ của Chính phủ vào năm 2008, thì khoản nợ đã vơi đi một nửa.

Câu chuyện năm 2008 vẫn được một số nhà đầu tư trong nước nhắc lại trong sự nuối tiếc. Khủng hoảng tài chính xảy ra, nhưng năm 2008 là một năm bội thu với một số ngân hàng và tổ chức tài chính trong nước, vì đã mua được trái phiếu chính phủ, trái phiếu do Chính phủ bảo lãnh… với giá thấp từ các ngân hàng, tổ chức tài chính nước ngoài. Đa số các trái phiếu mua lại là trái phiếu phát hành bằng tiền đồng Việt Nam. Riêng những khoản trái phiếu ngoại tệ – khoản 750 triệu đôla Mỹ mà Chính phủ đã phát hành năm 2005 cho Vinashin vay, thì lúc bấy giờ giá cũng giảm mạnh mà Chính phủ không mua lại; các nhà đầu tư trong nước không mua được, vì đây là khoản quy định phát hành ra nước ngoài – mua là phải chuyển ngoại tệ ra nước ngoài, trái với quy định về quản lý ngoại hối. Một số nhà đầu tư đã xin cơ chế mua “thí điểm” được một số trái phiếu này, nhưng cũng chỉ được mua bằng với số vốn điều lệ doanh nghiệp.

Những cơ hội như kể ở trên không nhiều, nhưng nó cho thấy một khiếm khuyết lớn của thị trường nợ Việt Nam. Trong khi nền kinh tế đang phát triển mạnh với nhiều công cụ vốn khác nhau, Chính phủ trong những năm qua tăng cường huy động vốn qua kênh phát hành trái phiếu, thì thị trường nợ vẫn rất kém phát triển. Nói như một chuyên gia trong lĩnh vực tài chính: “Thị trường nợ đi một chiều, chưa phát triển, không có chuyên gia, có khả năng Chính phủ không biết phải làm gì, hoặc thực ra là không ai dám làm gì”.

Việt Nam đang ở trong giai đoạn đầu của phát triển kinh tế, nền kinh tế khát vốn và liên tục phải tìm cách để huy động vốn. Không chỉ dựa vào vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) từ các quốc gia khác, Chính phủ phải vay tiền nước ngoài bằng việc phát hành trái phiếu. Doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp nhà nước lớn, cũng có xu hướng phát hành trái phiếu nhiều hơn. Mặc dù vậy, quy mô của thị trường trái phiếu vẫn còn rất nhỏ trong tương quan với thị trường vốn hiện nay. Đa số doanh nghiệp vẫn tìm đến các khoản vay thương mại của ngân hàng cho nguồn vốn đầu tư, kinh doanh của mình. Tổng quy mô vốn vay thương mại trên thị trường khoảng bằng 100% GDP. Giá trị thị trường chứng khoán theo thống kê mới nhất của uỷ ban Chứng khoán bằng gần 40% GDP. Trong khi đó, tổng giá trị thị trường trái phiếu trong nước chỉ bằng khoảng 10% GDP.

Chính phủ gần như không có các chuyên gia am hiểu thị trường nợ và các nghiệp vụ trên thị trường nợ, đây là một nhận xét của ông Lê Trọng Nhi, một chuyên viên tài chính có kinh nghiệm giao dịch, đàm phán các khoản nợ với các nhà đầu tư nước ngoài. Tình hình nợ Vinashin hiện nay là một thí dụ. Ngay khi thông tin về tình hình tài chính của Vinashin có vấn đề được tung ra từ cuối năm ngoái và đầu năm nay, đã có những nhà đầu tư chuyên mua các tài sản “có vấn đề” (distressed assets) dòm ngó đến. Các tài sản có vấn đề thì giá trị sụt giảm. Trong trường hợp Việt Nam, một nền kinh tế đang phát triển và đang cần uy tín với thị trường quốc tế, thì Chính phủ khó có thể “xù nợ”. Dù Việt Nam cam đoan trả nợ, các trái phiếu của Việt Nam vẫn giảm trên thị trường quốc tế. Nhưng khi giá giảm, Chính phủ, hoặc chính Vinashin, không tổ chức mua lại các khoản nợ này. Các chuyên gia cho rằng đây là một điều rất đáng tiếc mà Chính phủ không tính đến.

Bất chấp những khoản đầu tư bị quản lý vô trách nhiệm và những khoản nợ bị thất thoát phung phí như đã thấy từ Vinashin, các tập đoàn kinh tế nhà nước vẫn đang tiếp tục huy động trái phiếu, thậm chí dù phải chấp nhận trả lãi suất cao hơn hẳn so với các nước trong khu vực. Câu chuyện Vinashin và món nợ của nó, mà Chính phủ và nhân dân đang phải è lưng gánh, trong rất nhiều bài học đem lại, có bài học về phát triển thị trường nợ và kỹ thuật xử lý với các món nợ.

http://sgtt.vn/Goc-nhin/126776/Su-kem-coi-cua-thi-truong-no.html

Posted in Uncategorized | Để lại phản hồi

VINASHIN

Tin tức-Theo dòng sự kiện

Ngày 1-7, Bộ GTVT có thông cáo báo chí về việc tái cơ cấu Vinashin: Bộ đánh giá TCty Công nghiệp tàu thủy VN (tiền thân của Vinashin) được thành lập từ 1996 với vốn điều lệ chỉ hơn 100 tỉ đồng, công nghệ lạc hậu, thị trường nhỏ bé, nay đã phát triển thành tập đoàn KT mạnh về cơ khí chế tạo (công nghiệp đóng tàu)… Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính và suy thoái KT thế giới từ giữa 2008 đã ảnh hưởng nặng nề đến Vinashin gây ra khó khăn về tài chính, không huy động được nguồn vốn vay nước ngoài, cam kết vốn của một số ngân hàng và tổ chức tài chính trong nước bị hủy… dẫn đến không đảm bảo bố trí đủ nguồn vốn cho các dự án đầu tư đang thực hiện. Bên cạnh những nguyên nhân khách quan trên, Bộ GTVT còn đưa ra các nguyên nhân chủ quan như: đầu tư dàn trải, quản lý dự án, công nợ, dòng tiền… còn hạn chế, hệ thống quản lý có nhiều khâu chưa theo kịp. Do đó hoạt động SXKD, tình hình tài chính của tập đoàn rơi vào tình trạng rất khó khăn, phải khẩn trương, kiên quyết cơ cấu lại.

Đại diện CP trả lời về tái cơ cấu Vinashin: Tại cuộc họp báo thường kỳ Chính phủ tháng 6 (2/7) ô.Phạm Viết Muôn, Phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, đã nêu 4 lý do dẫn đến việc tái cơ cấu tập đoàn Vinashin là: 1/ Duy trì và tiếp tục phát triển công nghiệp đóng tàu. 2/Sử dụng có hiệu quả năng lực, cơ sở vật chất của ngành đóng tàu mà Vinashin đã đầu tư, xây dựng. 3/Không làm ảnh hưởng tiêu cực đến các tổ chức tín dụng . 4/Tiếp tục đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động.

Ô.Muôn cho biết, hiện nay tổng tài sản ở Vinashin là hơn 90.000 tỉ đ, vốn điều lệ/vốn chủ sở hữu là 9.000 tỉ đồng và nợ của Vinashin ở các tổ chức tín dụng là hơn 80.000 tỉ đồng. Việc chuyển một số DN từ Vinashin sang PVN và Vinalines giúp Vinashin giảm được gánh nặng nợ hơn 20.000 tỉ đồng. Lý do mà một số DN trong ngành chính của Vinashin bị chuyển qua cho doanh nghiệp khác như nhà máy đóng tàu Dung Quất, Khu công nghiệp Nghi Sơn là vì tập đoàn này không có tiền đầu tư, ngoài ra, ở các dự án bị chuyển giao, có dự án đã đầu tư, có dự án chưa khởi động. Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Công Nghiệp cho biết Vinashin vay lại trái phiếu Chính phủ phát hành ra thị trường vốn quốc tế (750 triệu đô la Mỹ) đến năm 2012 mới phải trả gốc và hiện Vinashin vẫn đang trả lãi.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị kỷ luật Chủ tịch Tập đoàn Vinashin Phạm Thanh Bình: UBKT TƯ cũng cho hay đã tiến hành kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với ô.Phạm Thanh Bình, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT Vinashin trong việc huy động, quản lý, sử dụng tiền vốn nhà nước. Kết quả kiểm tra cho thấy, ô.Bình đã thiếu trách nhiệm trong việc huy động, quản lý, sử dụng tiền vốn nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng khiến Vinashin bên bờ vực phá sản. Trong những năm qua, Tập đoàn đã báo cáo không trung thực với Chính phủ tình hình tài chính của DN; thành lập quá nhiều Cty con (gần 200) không đủ năng lực SXKD; đầu tư dàn trải ra nhiều lĩnh vực ngoài ngành công nghiệp tàu thủy. Vinashin còn đầu tư mua nhiều tàu biển cũ, gây thiệt hại lớn cho ngân sách nhà nước; vi phạm nghiêm trọng quy định của Nhà nước về lập, phê duyệt, đấu thầu các dự án; các khoản nợ rất lớn, mất khả năng thanh toán. Bộ máy quản lý vốn nhà nước tại nhiều đơn vị thuộc tập đoàn thiếu năng lực. Kết luận của UBKT TƯ cho biết ô.Bình còn bổ nhiệm con trai và em ruột làm đại diện phần vốn của Nhà nước, đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trái quy định của Đảng và Nhà nước. Những sai phạm của ô.Bình trong huy động, quản lý, sử dụng tiền vốn của Nhà nước là do thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý làm trái và có biểu hiện vụ lợi cá nhân, gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội; các khoản nợ rất lớn, mất khả năng thanh toán, đến nay, nợ quá hạn và đến hạn không có khả năng thanh toán lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng, hơn 5.000 lao động không có việc làm; các khoản nợ lương và bảo hiểm xã hội lên đến 234 tỷ đồng.  (VietNamNet 5/7)

Về việc bổ nhiệm người nhà trái nguyên tắc, báo Đại đoàn kết 3/7 nêu cụ thể:

Con trai ô.Bình là Phạm Bình Minh chỉ trong một thời gian quá ngắn lại liên tiếp được điều động, bổ nhiệm và kiêm nhiệm quá nhiều chức vụ quan trọng: s.1980, tốt nghiệp đại học New South Wales chuyên ngành kỹ sư vỏ tàu thủy. Về nước 2/2003 được giao cương vị Trợ lý trưởng bộ phận Nhà máy tàu biển Huydai Vinashin. Tháng 8 đến 11-2004 được điều về Ban Kinh doanh đối ngoại Tập đoàn. Tháng 12-2004 đến 11-2007 về Viện Khoa học công nghệ tàu thủy, ngồi ghế Trưởng phòng dự án công nghệ. 12/12/2007 được bổ nhiệm Phó Viện trưởng. Chỉ nửa tháng sau, tiếp tục kiêm thêm chức Giám đốc Trung tâm Thử nghiệm và kiểm định tàu thủy, kiêm chức Chủ tịch Công ty TNHH một thành viên Tư vấn thiết kế công nghiệp, kiêm chức Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm thuộc Viện Khoa học công nghệ tàu thủy, kiêm chức Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy Dung Quất. Khi bổ nhiệm con trai mình, Chủ tịch HĐQT Phạm Thanh Bình  đã không thông qua lấy ý kiến của Ban thường vụ Đảng ủy Tập đoàn và nghị quyết của HĐQT.

Em ruột ô.Bình là Phạm Thanh Phong tốt nghiệp tại chức ĐH Xây dựng năm 2000 được bổ nhiệm PGĐ Cty Tư vấn công nghệ và dịch vụ tài chính thuộc Cty Tài chính công nghiệp tàu thủy. 6/3/2006 được cử giữ chức PGĐ Cty cổ phần xây dựng Vinashin. 8/9/2006 được điều động giữ chức Phó TGĐ Cty TNHH một thành viên ĐT&XD Vinashin. Sau khi được cử làm “đại diện” góp vốn từ Tập đoàn cho Cty CP Vinashin- Tư vấn đầu tư, ô.Phong giữ chức Chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc.

Em vợ ô.Bình là bà Phạm Thu Hằng. Từ 1996- 2004, bà Hằng  được bổ nhiệm làm Trưởng văn phòng đại diện của Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Việt Nam tại Nga. Từ 2004 đến nay làm Phó, rồi Trưởng ban Kinh doanh đối ngoại của Tập đoàn.

Điểm đáng chú ý thứ hai là việc ô.Bình đã “xẻ” vốn nhà nước trong Tập đoàn  để cho người trong gia đình mình đứng tên làm “đại diện”. 2/3/2009,  Phạm Bình Minh con trai ông Bình được cử làm “đại diện” 10% vốn của Tập đoàn Vinashin để tham gia HĐQT công ty Cổ phần kỹ thuật đóng tàu Vinashin.  Phạm Thanh Phong em trai ông Bình cũng được cử làm “đại diện” 51% vốn của Tập đoàn Vinashin và Công ty TNHH một thành viên Đầu tư và xây dựng Vinashin tại Công ty cổ phần Vinashin- Tư vấn đầu tư. Việc cử con trai và em ruột của Chủ tịch HĐQT Phạm Thanh Bình làm “đại diện” nguồn vốn của nhà nước là vi phạm, trái với “Qui chế quản lý tài chính công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác”: “Tiêu chuẩn của người đại diện quản lý vốn: Không là bố, mẹ, vợ hoặc chồng, con, anh chị em ruột với những người là đại diện chủ sở hữu, người trong HĐQT, giám đốc doanh nghiệp có vốn góp vào doanh nghiệp mà người đó được giao trực tiếp quản lý…”

Tiếp đó, báo Đại Đoàn Kết 6/7 cho biết phần lớn các gói thầu xây lắp đều được Chủ tịch HĐQT Phạm Thanh Bình chỉ định thầu. Nhiều dự án do ô.Bình quyết định đầu tư và thực hiện chỉ định thầu, phê duyệt giá thầu, tổ chức đấu thầu chưa đủ căn cứ, chưa đúng qui định. Chỉ tính riêng giai đoạn 2008-2009, trong 106 dự án thuộc 65 chủ đầu tư với 2.245 gói thầu các loại, thì chỉ có 936 gói  được đấu thầu rộng rãi, có đến 438 gói được chỉ định thầu, 525 gói tự thực hiện, 53 gói đấu thầu hạn chế, 36 gói mua sắm trực tiếp và 257 gói chào hàng cạnh tranh. Quá trình lựa chọn nhà thầu, theo tổng hợp báo cáo của Tập đoàn cũng như của Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Nam Triệu và Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Bạch Đằng cho thấy có rất nhiều dấu hiệu “đấu thầu hình thức”. Cụ thể:

- Nhiều gói trúng thầu có giá trị trúng bằng đúng với giá gói thầu đến hàng đơn vị nhỏ nhất của giá trị, hoặc thấp hơn giá gói thầu không đáng kể. Trong khi vào các năm này, mức tiết kiệm trung bình thông qua đấu thầu của cả nước là khoảng 7-10%, thì tỉ lệ tiết kiệm các gói thầu do Tập đoàn Vinashin lại rất nhỏ, không đáng kể.

- Nhiều gói thầu mặc dù giá trúng có thấp hơn đôi chút nhưng khi thanh quyết toán cho nhà thầu lại đúng bằng giá gói thầu trong kế hoạch đấu thầu được duyệt.

- Một số nhà thầu có tần suất trúng nhiều đến khó hiểu.

- Một số công ty con của Tập đoàn (như Công ty cổ phần xây dựng Vinashin) được Tập đoàn ưu ái trong việc giao thầu theo các hình thức chỉ định mà không phải cạnh tranh hoặc tính cạnh tranh rất thấp.

Chính thức thanh tra Vinashin: 9/7, Thanh tra Chính phủ đã chính thức thông báo quyết định thanh tra Vinashin. Theo Vinashin, kế hoạch thanh tra tập đoàn này đã được thanh tra Chính phủ xây dựng từ năm 2009. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế nên Thủ tướng Chính phủ đã chấp thuận lùi thanh tra một số tập đoàn, tổng công ty sang năm 2010.

Chuyển hồ sơ vụ Vinashin sang điều tra hình sự: 12/7, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã có văn bản thông báo về việc tiếp tục xem xét, xử lý đối ô.Phạm Thanh Bình, Chủ tịch HĐQT Vinashin. Do những khuyết điểm của ô.Phạm Thanh Bình và một số cá nhân của Tập đoàn có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự, Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định chuyển toàn bộ hồ sơ sang cơ quan điều tra xem xét xử lý theo quy định tại khoản 1, Điều 32, Quyết định số 25-QĐ/TW, ngày 24/11/2006 của Bộ Chính trị nêu rõ: “ Nếu đảng viên vi phạm đến mức phải xử lý bằng pháp luật thì chuyển cơ quan pháp luật xem xét.”

Thủ tướng Chính phủ đã đình chỉ chức vụ Chủ tịch HĐQT Vinashin đối với ông Phạm Thanh Bình để kiểm điểm trách nhiệm và thanh tra, điều tra, làm rõ các sai phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao. Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ra quyết định phân công ô.Nguyễn Hồng Trường, Thứ trưởng Bộ GTVT kiêm nhiệm chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị Vinashin.

Bài

Vinashin nợ nần chồng chất

Quang Hưng-Nhân dân 7/7-8/7

Kỳ 1: Nguyên nhân dẫn đến nợ nần

Ðầu tư dàn trải: Khách quan mà nói, sau khi thành lập (năm 1996) một thời gian không dài, Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, nay là Tập đoàn Vinashin, đã có một “màn trình diễn đầy ấn tượng”. Với vốn điều lệ vỏn vẹn hơn 100 tỷ đồng, công nghệ lạc hậu, chỉ đóng được những gam tàu pha sông biển vài nghìn tấn, Vinashin đã vươn lên phát triển rất nhanh về năng lực đóng mới và sửa chữa tàu, đưa Việt Nam đứng trong năm cường quốc đóng tàu mạnh nhất trên thế giới, qua việc đóng thành công các loại tàu hàng trọng tải hơn 100 nghìn tấn, tàu chở ô-tô 4.900 xe, tàu chở dầu thô 100 – 300 nghìn tấn, kho nổi chứa xuất dầu 150 nghìn tấn,… Nghị quyết Hội nghị Trung ương IV (khóa X) đã xác định, phát triển ngành cơ khí chế tạo, trong đó cơ khí đóng tàu là trọng điểm, định hướng chiến lược của Ðảng và Nhà nước ta trong quá trình CNH, HÐH đất nước; góp phần phát triển kinh tế biển và thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc phòng. Sức có hạn, nhưng Vinashin có tham vọng hoàn thiện ngành đóng tàu trong nước, đóng những con tàu trọng tải lớn hoàn toàn mang thương hiệu “Made in Vietnam”, chế tạo từ vỏ tôn thép đến thiết bị, nội thất bằng nguồn lực trong nước.

Ðể thực hiện mong muốn này, ngoài nguồn vốn trái phiếu phát hành ra quốc tế 750 triệu USD được đặc cách chuyển cho Vinashin, tập đoàn này còn có kế hoạch phát hành ba tỷ USD nhằm nâng cao tỷ lệ nội địa hóa trên mỗi sản phẩm tàu thủy xuất khẩu lên 70 – 75%. Vốn trái phiếu Chính phủ là loại vốn phải giải ngân ngay, nhận đủ số tiền đồng thời cũng tính lãi luôn. Ðây chính là “con dao hai lưỡi”, tuy có ưu đãi vượt trội về nguồn vốn đầu tư phát triển, nhưng  cũng là thách thức không nhỏ để giải ngân toàn bộ. Ðể hạn chế tổn thất đối với nguồn vốn này, Vinashin đã mở rộng sản xuất một cách rầm rộ, đầu tư xây dựng đồng loạt hệ thống các nhà máy lắp ráp động cơ máy chính tàu thủy, động cơ điện tàu thủy ở cả ba vùng bắc, trung, nam, xây dựng nhà máy sơn chuyên dụng tàu thủy tại Bình Dương, nhà máy sản xuất công-ten-nơ ở Bắc Giang (công suất 80 nghìn TEU/năm). Ðồng thời, khởi công xây dựng hàng loạt khu công nghiệp (KCN) lớn ở các địa phương trên cả nước, điển hình là KCN tàu thủy Lai Vu (Hải Dương), Tổ hợp công nghiệp dịch vụ cảng biển Hải Hà (Quảng Ninh), Cảng Vinashin Ðình Vũ (Hải Phòng), KCN tàu thủy Soài Rạp (Tiền Giang),… Năm 2007, Vinashin tiếp nhận hệ thống cảng biển trong toàn quốc như Hòn Gai, Thịnh Long, Chân Mây, Cửa Việt,… Sau một thời gian ngắn, toàn tập đoàn đã hình thành hơn 200 công ty con, trong số này có không ít đơn vị sống như “tầm gửi” vào nhựa “cổ thụ” tập đoàn. Rất nhiều dự án “hoành tráng” của Vinashin, sau khi được các địa phương ưu ái giao những vị trí đắc địa, đã được triển khai với tốc độ “rùa”. Chúng tôi đã có dịp khảo sát tại nhiều đơn vị, dự án của Vinashin dọc theo chiều dài đất nước, nhận thấy ít có tỉnh nào, ít vị trí đẹp nào mà không có sự “chiếm đất” của Vinashin. Tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nhiều dự án xây dựng KCN đóng tàu được Vinashin đăng ký, động thổ rồi… để đó. Cuối tháng 4-2007, Vinashin khởi công xây dựng cụm CNTT và nhà máy đóng tàu tại Khu công nghiệp Sông Hậu (huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang), quy mô 600 ha, tổng vốn đầu tư 60 nghìn tỷ đồng. Nhà máy có khả năng đóng tàu tới 70 nghìn DWT, còn cụm CNTT quy mô 290 ha, trong đó có nhà máy sản xuất công-ten-nơ lớn nhất phía nam, công suất 120 nghìn công-ten-nơ/năm, dự kiến giải quyết việc làm cho khoảng 20 nghìn lao động. Tuy nhiên sau đó, hai dự án này chỉ là bãi đất đầy cát và cỏ dại, trơ trọi vài chiếc cần cẩu đứng im lìm phơi nắng mưa. Dọc đê biển Vàm Láng (huyện Gò Công Ðông, tỉnh Tiền Giang), khu đất rộng mênh mông 285 ha có vị trí đẹp nhất trong hệ thống các KCN được quy hoạch ven sông Vàm Cỏ và cửa Soài Rạp được dành cho Vinashin xây dựng KCN tàu thủy Soài Rạp. Theo quy hoạch, Vinashin sẽ xây dựng ở đây nhà máy đóng tàu 100 nghìn DWT, các loại tàu chuyên dụng, tàu nhỏ, tàu chở khách,… Nhưng sau khi bơm cát san lấp mặt bằng, chủ đầu tư bỏ bẵng. Cuối cùng, tỉnh Tiền Giang “đành” kiến nghị Thủ tướng bãi bỏ đầu tư của dự án này. Một dự án khác: cụm công nghiệp Năm Căn (diện tích hơn 220 ha) và cảng Năm Căn (12 ha) tại Cà Mau cũng do Vinashin làm chủ đầu tư nhưng do thiếu vốn triển khai, kết quả cuối cùng chỉ là “giậm chân tại chỗ”. Một dự án “tai tiếng” khác của Vinashin là cuối năm 2007, tập đoàn đầu tư khoảng 60 triệu ơ-rô (tương đương 1.300 tỷ đồng) mua tàu Hoa Sen (vốn là tàu chở hàng và hành khách) của I-ta-li-a, hoán cải thành tàu chở khách du lịch và hàng hóa trên tuyến biển bắc – nam. Tuy nhiên, sau gần một năm chạy “nhúc nhắc”, tàu Hoa Sen buộc phải ngừng hoạt động hẳn vì “càng chạy càng lỗ”. Khi hoạt động, chi phí cho mỗi chuyến tàu hơn một tỷ đồng, giá vé hành khách đắt ngang ngửa vé máy bay, phí vận chuyển hàng hóa cũng cao hơn so các loại hình vận tải khác, vì thế lượng khách và hàng hóa ngày càng giảm. Ðó còn chưa kể đến một loạt dự án nhiệt điện, thủy điện, xi-măng, thép, bảo hiểm, các khu resort, triển lãm,… được Vinashin góp vốn đầu tư. Thậm chí, có thời gian, Vinashin còn tính đến chuyện đầu tư thành lập hãng hàng không giá rẻ, tuy nhiên, ý tưởng này đã phải dừng lại do thiếu cơ sở thực tế.

Quản lý yếu: Do tác động của suy thoái kinh tế thế giới, Vinashin gặp nhiều khó khăn về tài chính, không huy động được nguồn vốn vay nước ngoài, cam kết vốn của một số ngân hàng và tổ chức tài chính trong nước bị hủy, nhiều chủ tàu gặp khó khăn đã đề nghị hủy hợp đồng, giãn tiến độ đóng tàu cũng như thời gian thanh toán,… Tuy nhiên, nguyên nhân chủ quan và chủ chốt không thể không nhắc đến chính là hệ thống quản lý của tập đoàn tỏ ra yếu kém, chưa theo kịp và thích ứng với tình hình biến động khủng hoảng, cách đầu tư dàn trải, quản lý dự án, công nợ, dòng tiền,… của tập đoàn còn rất nhiều hạn chế. Vinashin đã hào phóng mở rộng sản xuất ở hầu khắp các lĩnh vực liên quan và phải nói rằng nhiều địa phương, doanh nghiệp đã nhiệt tình mời gọi Vinashin hợp tác đầu tư, nhiều doanh nghiệp đang mấp mé bờ vực phá sản được Vinashin “bơm” vốn lại trở nên “sống khỏe”. Cung cách đầu tư của Vinashin thời điểm đó giống như một anh nhà nghèo bất chợt trúng vé xổ số độc đắc, tiêu tiền vung tàn tán không cần nghĩ tới ngày mai. Năm vừa qua, Vinashin buộc phải đình, hoãn 49 dự án không thật sự cần thiết, với nguồn vốn khoảng 6.500 tỷ đồng nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát theo chỉ đạo của Thủ tướng.

Ðóng tàu là một ngành công nghiệp tổng hợp, một con tàu với hàng nghìn thiết bị, linh kiện tinh vi, đòi hỏi kỹ thuật cao, không chỉ đơn thuần muốn là làm được. Ðiều nguy hiểm nhất của Vinashin đã được các chuyên gia nhiều lần cảnh báo, đó chính là tổ chức sản xuất khép kín. PGS, TS Phan Ðăng Tuất, Viện trưởng Viện Chiến lược chính sách công nghiệp (Bộ Công thương) nhiều lần phải kêu lên xót xa: Thời buổi mở cửa nền kinh tế, từng chi tiết, linh kiện được tổ chức theo chuỗi giá trị toàn cầu. Vinashin không thể tự mình “làm tất ăn cả” từ que hàn, sơn, nội thất đến tôn thép, máy thủy,… mà phải xác định ngành nào là ngành sản xuất chính yếu để phát triển, nếu cái gì cũng tự làm thì hiệu năng sẽ rất thấp. Trên thực tế, hiện nay tỷ lệ nội địa hóa của công nghiệp tàu thủy chỉ khoảng 18 – 20%. Xét cho cùng, việc phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành đóng tàu là một thách thức rất lớn, vượt quá khả năng, tầm tay của Vinashin. Sau 15 năm, ngành đóng tàu trong nước có khả năng đóng được những gam tàu lớn, phức tạp, nhưng gần như chỉ mang tính gia công, giá trị gia tăng trên mỗi sản phẩm rất thấp. Có người đã ví von ngành công nghiệp đóng tàu nước ta là “công nghiệp may tàu”, chẳng khác gì da giày, dệt may, từ việc thiết kế, phân cấp tàu, đến chế tạo tôn thép, nghi khí hàng hải hầu như do các hãng nước ngoài cung cấp, trong nước chỉ đơn thuần là nhân công và một số vật tư, thiết bị giản đơn. Nói như vậy để thấy tham vọng, mục tiêu đưa tỷ lệ nội địa hóa lên 70 – 75% giá trị con tàu của Vinashin chỉ là viễn cảnh xa vời. Theo các nhà quản lý kinh tế, nếu như Vinashin tập trung nghiên cứu thị trường, ưu tiên đầu tư sản xuất thiết bị, linh kiện nào đó của sản phẩm tàu thủy, được đăng kiểm quốc tế công nhận, để trở thành nhà cung cấp thiết bị đó trên toàn thế giới, đó mới thật sự là tham gia chuỗi giá trị cung ứng toàn cầu và cũng là cách nâng cao tỷ lệ nội địa hóa một cách bền vững. Một chuyên gia kinh tế nước ngoài từng nhận định và cảnh báo: Việc sử dụng nguồn vốn của Vinashin thời gian vừa qua không hiệu quả. Ðể xây dựng một nhà máy đóng tàu 120 nghìn tấn hiện đại ở Ấn Ðộ có chi phí 90 triệu USD, trong khi Vinashin phải cần tới 150 triệu USD. Kế hoạch đầu tư ba tỷ USD vào các nhà máy đóng tàu, thép và các ngành công nghiệp cung ứng khác đã đặt ra quan ngại về khả năng kỹ thuật cũng như trình độ quản lý của Vinashin với nguồn vốn rất lớn này bởi từ khi thành lập, vốn điều lệ của Vinashin chỉ vỏn vẹn hơn 100 tỷ đồng.

Việc phát triển “bốc đồng” của Vinashin trong bối cảnh một số điều kiện cần như hệ thống văn bản quy phạm pháp luật phù hợp thông lệ quốc tế, cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính,… chưa theo kịp yêu cầu, đã khiến cho tập đoàn gặp khó khăn không nhỏ về vốn, công nghệ, thiết bị, cơ sở hạ tầng cũng như nguồn nhân lực. Sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao của ngành đóng tàu có thể nhận thấy rõ ở lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, đào tạo và thiết kế liên quan tàu biển. Mới đây, Ủy ban Kiểm tra T.Ư Ðảng đã có thông báo về kỳ họp 32, trong đó nêu rõ: Bộ máy quản lý vốn Nhà nước tại nhiều đơn vị thuộc tập đoàn thiếu năng lực. Ðồng chí Phạm Thanh Bình (Bí thư Ðảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Vinashin) còn bổ nhiệm con trai và em ruột làm đại diện phần vốn Nhà nước, đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trái quy định của Ðảng và Nhà nước. Những sai phạm trong huy động, quản lý, sử dụng tiền vốn của Nhà nước là do thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý làm trái và có biểu hiện vụ lợi cá nhân, gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội; các khoản nợ lớn, mất khả năng thanh toán, đến nay, nợ quá hạn và đến hạn không có khả năng thanh toán lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng, hơn 5.000 lao động không có việc làm; các khoản nợ lương và bảo hiểm xã hội lên đến 234 tỷ đồng.

Kỳ 2: Tái cơ cấu, cơ hội cho Vinashin

Ổn định và phục hồi sản xuất: Ðối với Tập đoàn Vinashin, giải bài toán công nợ không phải đơn giản. Do vậy, yêu cầu bức thiết đặt ra đối với Tập đoàn Vinashin là phải khẩn trương, kiên quyết cơ cấu lại, cả về tổ chức sản xuất kinh doanh, đầu tư tài chính, với yêu cầu duy trì, phát triển ngành công nghiệp cơ khí đóng, sửa chữa tàu biển; khai thác sử dụng có hiệu quả các dự án, không để ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Ðể triển khai chủ trương này, ngày 18-6 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 926/QÐ-TTg về việc cơ cấu lại Tập đoàn Vinashin. Việc tái cơ cấu này không ảnh hưởng đến kế hoạch thanh tra toàn diện Tập đoàn Vinashin của Thanh tra Chính phủ. Theo quyết định của Thủ tướng, những doanh nghiệp và dự án dở dang của Tập đoàn Vinashin, các công ty không thật sự cần thiết trong chiến lược phát triển, gắn với ngành nghề sản xuất kinh doanh chính (đóng tàu và công nghiệp phụ trợ) như vận tải biển, xây dựng cảng, khu công nghiệp…, trong điều kiện khó khăn hiện nay, chưa có điều kiện hoàn thiện, thì được chuyển giao cho các doanh nghiệp khác phù hợp và có điều kiện hơn để quản lý, đầu tư, khai thác có hiệu quả. Ðiều này tạo điều kiện cho tập đoàn giảm nợ và bổ sung nguồn vốn vào các dự án đóng tàu. Thủ tướng chỉ đạo các bộ, ngành liên quan, Tập đoàn Vinashin tiếp tục thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấu tài chính của tập đoàn, gắn với kế hoạch sản xuất kinh doanh – tài chính tổng thể; giải quyết hoặc báo cáo, đề xuất biện pháp giải quyết khi vượt thẩm quyền, hoàn thành tốt mục tiêu chiến lược phát triển ngành công nghiệp tàu thủy, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm cho người lao động. Ngày 22-6, Tập đoàn Vinashin đã ban hành Nghị quyết liên tịch của Ðảng ủy và Hội đồng quản trị, đề ra các biện pháp nhanh chóng thực hiện chủ trương trên, chủ động xây dựng kế hoạch, phương án và lộ trình triển khai thực hiện, bảo đảm chuyển giao nguyên trạng doanh nghiệp, dự án theo đúng quyết định của Thủ tướng, không gây đình đốn sản xuất và thất thoát tài sản Nhà nước, giữ vững đội ngũ cán bộ, công nhân. Ðồng thời, ổn định sản xuất, cố gắng giữ vững thị trường, nhằm mục tiêu vượt qua khó khăn và từng bước phát triển ngành công nghiệp tàu thủy, góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng, bảo đảm việc làm cho hàng chục nghìn lao động. Tập đoàn Vinashin đang thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, tiến hành kiểm điểm nghiêm túc trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong HÐQT, Ban Tổng giám đốc, lãnh đạo các đơn vị thành viên, người đứng đầu các tổ chức chính trị xã hội trong tập đoàn; xử lý các sai phạm và rút kinh nghiệm sâu sắc vấn đề này. Ban lãnh đạo Tập đoàn Vinashin cũng triển khai rà soát, cắt giảm, đình hoãn một số dự án và sắp xếp, kiện toàn hệ thống tổ chức gắn với điều chỉnh chiến lược sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, trọng tâm là quản trị tài chính. Ðẩy nhanh thực hiện việc chuyển nhượng phần vốn góp, giảm vốn hoặc giải thể các công ty thành viên không gắn kết với ngành sản xuất kinh doanh chính, các công ty hoạt động không hiệu quả,…

Trong buổi làm việc mới đây, Tổng Giám đốc điều hành Tập đoàn Vinashin Trần Quang Vũ đã thừa nhận, sở dĩ Vinashin vấp phải khó khăn, nợ nần vì hệ thống quản lý hạn chế, cần có sự thay đổi. Nếu lãnh đạo Tập đoàn Vinashin tập trung đầu tư trọng điểm, có lẽ sẽ không bị rơi vào tình cảnh như hiện nay. Nhiều dự án có quy mô lớn, vốn phải chịu lãi vay, bộ máy cồng kềnh trong khi dự án chưa tạo ra sản phẩm. Trước khó khăn này, chủ trương tái cơ cấu của Chính phủ là quyết định đúng đắn, bảo đảm cho doanh nghiệp duy trì ổn định và phát triển sản xuất. Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, tài sản là của Nhà nước, của nhân dân, việc điều chuyển một số doanh nghiệp về các đơn vị có năng lực để hoàn thiện, đi vào sản xuất sẽ đạt được hiệu quả, lợi ích chung cho đất nước. Trước khi có quyết định của Thủ tướng, Tập đoàn Vinashin đã giảm bớt một số đầu mối, dự án để thu hồi vốn, tập trung cho ngành sản xuất chính. Trong giai đoạn này, Tập đoàn Vinashin phải xây dựng một chiến lược mới, tập trung chính vào công nghiệp đóng tàu, cơ khí chế tạo, nội địa hóa một số sản phẩm để thực hiện có hiệu quả chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Thực tế, các khoản nợ của Tập đoàn Vinashin hầu hết nằm ở tài sản. Sau khi tái cơ cấu, tập đoàn sẽ giảm được khoảng 15 – 18% số nợ. Tập đoàn cũng sẽ quyết liệt rà soát lại tất cả các dự án, tài sản, cái nào không cần thiết thì chuyển nhượng để tập trung trả nợ, phục hồi sản xuất.

Theo Tổng Giám đốc Trần Quang Vũ thì Vinashin còn có cơ hội để phát triển trở lại. Trong nhiều năm tới, vận tải biển vẫn chiếm ưu thế trong việc luân chuyển hàng hóa.

http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=38&sub=131&Article=178585

TGĐ điều hành Vinashin Trần Quang Vũ: Tái cơ cấu Vinashin: “Xấu hổ và cay đắng”

Anh Quân thực hiện-TBKTVN 8/7, 9/7

“Trong việc này, chúng tôi thật sự xấu hổ và cay đắng”, Tổng giám đốc điều hành Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) Trần Quang Vũ (ảnh) bày tỏ trong cuộc trao đổi với báo chí, xung quanh cách thức xử lý các vấn đề tồn đọng, quyền lợi và trách nhiệm các bên liên quan, cũng như định hướng của việc tái cơ cấu tập đoàn này.

Ông Vũ nói:

- Đáng ra nó không phải như thế này, kể cả có khủng hoảng. Đáng ra, chúng tôi phải tỉnh táo hơn từ năm 2008. Đấy là những điều làm chúng tôi day dứt.

Danh dự chúng tôi đã bị tổn thương, trong khi đó, những người công nhân của Vinashin rất tốt lại là nạn nhân của hệ thống điều hành. Đấy là điều đau đớn, phải vực nó lên, phải bổ nhiệm được lãnh đạo kế tiếp và chúng tôi sẵn sàng chịu trách nhiệm, trả giá cho câu chuyện vừa qua, không né tránh.

Có thể xin phép bán nhà máy để trả nợ

Mới đây, Vinashin cho biết đã mất đi khoảng 15 nghìn nhân công trong quá trình khó khăn vừa qua. Có phải là nghịch lý không khi tập đoàn luôn khẳng định đủ việc làm đến 2011 nhưng vẫn có công nhân thiếu việc làm?

Trong quá trình khủng hoảng vừa qua, chúng tôi mất đi khoảng 15 nghìn lao động thật. Nhưng 15 nghìn lao động này rơi vào các công ty xây dựng, công ty dịch vụ, công ty cổ phần mới thành lập. Còn lực lượng đóng tàu chúng tôi chỉ mất đi khoảng 2 nghìn người, không phải con số quá lớn. Còn lực lượng tinh nhuệ của chúng tôi hãy còn nguyên.

Còn chuyện công nhân không có việc làm là do không có vốn cho sản xuất. Việc hợp đồng ký là đảm bảo cho đến năm 2012, nhưng hiện chúng tôi không thể huy động vốn nhiều để đóng các con tàu cho nên dẫn đến công nhân không có việc làm.

Với đợt tái cơ cấu này, chúng tôi dồn toàn lực nguồn tiền thu về được để tập trung đủ sống và cho sản xuất. Và khi các con tàu được giao thì chúng tôi tiếp tục cân đối được những khoản tiền lớn về để cân đối tài chính. Hiện nay chúng tôi đang có khoảng hơn 1 tỷ USD giá trị tàu đóng dở dang. Chúng tôi chỉ cần bỏ thêm một ít nữa thì sẽ thu được số tiền này về.

Với bài toán này, chúng tôi thu được hai mục tiêu, vừa cân đối được tài chính, vừa thúc đẩy sản xuất và thu tiền về. Tất nhiên, do khó khăn về tài chính nên có những hợp đồng nhỡ hạn, chúng tôi phải dàn xếp với chủ tàu để họ chia sẻ khó khăn với chúng tôi.

Ông có lạc quan quá không, khi mà Vinashin vẫn còn đứng trước khoản nợ khoảng 60 nghìn tỷ đồng, sau khi đã chuyển được 20 nghìn tỷ đồng khác cho đối tác?

Chúng tôi không phải hoàn toàn ảo tưởng. Chúng tôi hiểu rằng phía trước còn nhiều thách thức và khó khăn. Nhưng với quyết tâm rất cao, chúng tôi chắc chắn sẽ vượt qua được.

60 nghìn tỷ đồng phải tính là chúng ta làm được cái gì trong 1 năm. Ví dụ như các nhà máy lớn của chúng tôi hoàn toàn có thể làm được 15-20 tàu cỡ 53 nghìn tấn mỗi năm. Mà chúng ta biết là tổ chức sản xuất tốt thì một con tàu chúng tôi lãi từ 3-5 triệu USD, sản xuất không ra gì thì mới lỗ. Và với sản lượng khi phục hồi trở lại, chúng tôi hoàn toàn có khả năng tạo ta lợi nhuận để trả món nợ này.

Tất nhiên, món nợ ngoài ý nghĩa là nợ thì nó còn hình thành nên tài sản của chúng tôi, chứ không phải hoàn toàn là 60 nghìn tỷ đồng. Phần hình thành các nhà máy, các cơ sở sản xuất của chúng tôi cũng chiếm khoảng 40 nghìn tỷ đồng trong đó, còn lại chỉ có 20 nghìn tỷ đồng là vốn lưu động. Cho nên, khi thị trường kích hoạt trở lại thì chúng tôi hoàn toàn có khả năng trả nợ được.

Và thậm chí chúng tôi cũng thẳng thắn là khi thị trường phục hồi mà nhà đầu tư nước ngoài quan tâm, chúng tôi sẵn sàng xin phép Chính phủ bán một số nhà máy đi để trả nợ. Có phải chúng tôi vứt tiền đi đâu? Mọi người đều hiểu nhầm là 60 nghìn tỷ đồng ấy mất đi, thực tế có mất đi đâu.

Ví dụ như Tổng công ty Nam Triệu, trước chúng tôi đầu tư chỉ có 200 triệu USD, vào khoảng 4 nghìn tỷ đồng. Nay, chúng tôi hoàn toàn có thể bán với giá 5-6 nghìn tỷ đồng cho nước ngoài khi thị trường hồi phục. Các nhà máy chúng tôi đầu tư ở giai đoạn trước đây với chi phí rất thấp. Chúng tôi đã tính toán đến khả năng khả thi để trả nợ.

Sẽ chỉ đầu tư ngoài ngành bằng lãi kiếm được

Sau quyết định tái cơ cấu, với những dự án còn lại, bao nhiêu dự án vẫn đầu tư dở dang, và tập đoàn cần thêm bao nhiêu vốn nữa?

Hiện tại chúng tôi đang kiểm kê lại, rà soát những dự án không thật cần thiết và có thể bán đi để thu tiền về. Việc này sẽ được làm rất kiên quyết.

Quan điểm của chúng tôi là sẽ xây dựng kế hoạch cả gói cho Vinashin trong đó quan điểm của chúng tôi là vẫn giữ nguyên Vinashin là kinh doanh đa ngành đa nghề, vì đây là quy luật của phát triển kinh tế. Thế nhưng, chúng tôi sẽ đưa ra chiến lược và lộ trình.

Ví dụ như hiện nay, Vinashin đang dựa trên nền tảng hoạt động từ vốn vay thì chúng tôi chỉ tập trung vào đóng tàu, sửa chữa tàu và chế tạo thiết bị cho tàu thủy. Sau này, khi chúng tôi làm ăn có lãi thì chỉ đầu tư ra ngoài ngành kinh doanh chính phần lãi chúng tôi làm ra, chứ không phải bằng vốn vay.

Việc phát hành trái phiếu cho Vinashin vay lại, hay yêu cầu các ngân hàng cho Vinashin vay, vài năm gần đây không còn. Như vậy Vinashin sẽ đứng tự chủ thế nào sau rất nhiều năm được quan tâm quá mức?

Tất nhiên, chúng tôi là doanh nghiệp nhà nước, sự hỗ trợ, chỉ đạo của Đảng và Chính phủ là cần thiết. Theo quan điểm của tôi, các ngành nghề công nghiệp nặng, khó, tư nhân không làm được, nhà đầu tư nước ngoài không đầu tư, thì Chính phủ nên có hỗ trợ. Các nước cũng vậy. Nhưng sự hỗ trợ đó chỉ là lúc ban đầu, còn lại tự họ phải tổ chức sản xuất để làm ăn có lãi. Chúng ta không thể bao cấp mãi được.

Đương nhiên, chúng tôi bây giờ, dù có “bò” thì cũng sẽ “bò” bằng đôi chân của mình. Nếu cần thiết thì chúng tôi cũng xin hỗ trợ ngắn hạn, nhưng phải đảm bảo hoàn trả lại hỗ trợ theo đúng cam kết.

Xin cơ hội giải thích

Ý ông là tập đoàn có thể sẽ vượt qua rất nhanh. Vậy vì sao kết quả kinh doanh 6 tháng qua không thấy Vinashin công bố?

6 tháng đầu năm nay không được bằng năm ngoái, sản xuất đang có dấu hiệu đi xuống. Doanh thu toàn tập đoàn khoảng 21 nghìn tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm ngoái là khoảng 30 nghìn tỷ đồng. 6 tháng đầu năm không có lãi. Làm sao mà lãi được, với tình hình hiện nay cầm cự được đã là tốt lắm rồi. Doanh số đi xuống rồi chi phí về lãi vay phát sinh ra… làm gì có lãi.

Cho nên, vấn đề với doanh nghiệp chúng tôi hiện nay là phải đẩy mạnh sản xuất, tạo ra doanh số cao, tiết kiệm chi phí thì mới đương đầu được. Tôi hy vọng giải quyết nhanh đợt này thì từ tháng sau sẽ đi lên. Bắt đầu tư sáng nay, tôi họp phiên đầu tiên trên cương vị điều hành đã ra lệnh kiểm soát chặt chẽ và yêu cầu tất cả từ tổng giám đốc đến mọi người, thứ Bảy, Chủ Nhật cần thiết là không có ngày nghỉ.

Cuối tuần này, lãnh đạo chúng tôi đi các đơn vị, tuần sau đi các tỉnh phía Nam, giải thích và làm rõ, đưa ra kết hoạch. Sẽ kêu gọi mọi người từ lãnh đạo cao nhất trở xuống, trong 3 tháng tới làm việc với cường độ cao nhất để phục hồi sản xuất.

Khi vấn đề tái cơ cấu Vinashin được thông tin đến dư luận, có ý kiến cho rằng khủng hoảng bộc lộ hạn chế chất lượng cũng như khả năng đóng tàu của tập đoàn. Ông giải thích thế nào?

Tôi cho là không phải. Vinashin khó khăn như hiện nay do chúng tôi có nhiều tham vọng tạo ra ngành công nghiệp toàn diện, tự tin vào thị trường tài chính tốt, phải đầu tư. Giả sử phát hành 2 tỷ USD, nếu tình trạng đất dự án giao chậm như hiện nay sẽ tai họa khi tiền về. Chúng tôi đi trước một bước, mở các dự án trước khi phát hành. Nhưng không may thị trường đổ nên gây ra tình trạng hiện nay.

Ngành đóng tàu không khó khăn như mọi người nghĩ. Chúng tôi đã đóng tàu khó nhất trên thế giới, trình độ không thua kém các nước trên thế giới. Trước đây đóng tàu 53 ngàn tấn đầu tiền mất 14 tháng đấu đà, nay chỉ mất 2 tháng rưỡi, trình độ quản lý, tay nghề công nhân tốt, khẳng định sức mạnh kỹ thuật và quản lý các dự án đóng tàu của Vinashin mạnh hơn trước đây rất nhiều. Chúng tôi tự tin cạnh tranh được.

Có ý kiến độc giả phản ánh với chúng tôi rằng, tàu của Vinashin không dám cập cảng quốc tế vì sợ siết nợ, hoặc sợ phạt vì không đủ tiêu chuẩn, chất lượng không đảm bảo. Ông nghĩ sao về vấn đề này?

Cái đó không phải như vậy. Cần phải phân định rõ Vinashin hoạt động nhiều ngành nghề, trong đó có cả đóng tàu và vận tải biển.

Những con tàu chúng tôi đóng đạt các tiêu chuẩn của đăng kiểm thế giới và Vinashin đã đóng tàu là theo tiêu chuẩn của đăng kiểm thế giới. Cái thứ hai là tàu của Vinashin chạy vòng quanh thế giới rất nhiều lần rồi và không có phản hồi nào về kỹ thuật trong 4-5 năm nay.

Còn các con tàu bị bắt giữ ở cảng chủ yếu là tàu của một công ty vận tải của Vinashin, đó là tàu cũ của nước ngoài đã mua về từ nhiều năm trước và khi tài chính có khó khăn chưa đủ tiền để sửa chữa cho hoàn hảo theo yêu cầu của đăng kiểm. Cho nên, nó xảy ra tình trạng như vậy.

Tất nhiên chúng tôi hoàn toàn tôn trọng và lắng nghe mọi ý kiến phản hồi và xin có cơ hội để được giải thích.
Khi “phân vai” sẽ khác

Sau tái cơ cấu, những vấn đề như nhân sự, tổ chức, quản lý giám sát tài chính, đầu tư có gì thay đổi, thưa ông?
Chúng tôi bước đi trên một nền tảng không phải như mọi người đã nghĩ. Ngoài những vấn đề báo chí đã nêu, chúng tôi có một cơ sở vật chất đã được tạo dựng lên. Trong 10 năm vừa rồi, Vinashin tạo nên một đội ngũ đóng tàu có trình độ và đã từng vượt qua nhiều thử thách.

Ngoài ra, rõ ràng về quản lý, chúng tôi có những vấn đề cần phải hiệu chỉnh. Chúng tôi sẽ xem xét một cách bình tĩnh, những gì tốt đẹp những năm vừa qua chúng tôi làm được thì sẽ tiếp tục phát huy nó lên, những gì tồn tại cần được hiệu chỉnh cho phù hợp với chiến lược phát triển mới, tất cả nhằm mục đích hiệu quả.
Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tập trung vào ngành đóng tàu và chế tạo thiết bị, củng cố bộ máy cho phù hợp chiến lược phát triển mới, co cụm lại ở các vùng miền và giảm nhẹ các đầu mối. Chúng tôi dự kiến số lượng công ty sẽ giảm xuống dưới 100 để tăng cường nguồn lực cho các công ty còn ở lại.

Và xây dựng lại một hệ thống quản lý hiện đai, nếu như ngành đóng tàu mà không xây dựng được hệ thống quản lý và điều hành “bán quân sự” thì ngành đóng tàu sẽ lỗ. Một con tàu trị giá  khoảng 600 tỷ đồng, cộng với thiết bị để hạ thủy nó khoảng 500 tỷ đồng là 1.100 tỷ đồng. Nếu chúng tôi giao đúng hạn thì sẽ lãi, nhưng nếu quản lý không tốt, hệ thống vật tư cung cấp có vấn đề, bộ máy chuyển động không trơn trượt, chậm 3-4 tháng là chúng tôi lỗ vài triệu USD. Cho nên, vấn đề quản lý và vận hành hệ thống quản lý đó là quan tâm hàng đầu.

Cái nữa là tiếp tục đào tạo nguồn nhân lực. Hiện nay đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân của chúng tôi rất giỏi, nhưng cán bộ quản lý cần phải xây dựng và chuyên nghiệp hơn. Đó là những chiến lược lớn của Vinashin trong thời gian tới.

Quản lý tài chính sẽ phải làm chặt chẽ hơn. Chúng tôi không háo hức trong việc phát hành mà tất cả đều phải xây dựng lại, các dự án tính toán cho cụ thể, thị trường tầm gần tầm xa, mức đầu tư và nguồn nhân lực và tính khả thi của nó thì mới bắt đầu huy động vốn.

Còn các dự án đầu tư thì vẫn tiếp tục theo chiến lược phát triển mới và phải kiểm soát chặt chẽ. Chúng tôi là người kinh doanh nên khi thị trường sôi động rất khó giữ mình. Cho nên, chúng tôi sẽ cố gắng kiểm soát cảm xúc của mình khi mà bất chợt có một thị trường ngoài ngành phát triển. Chúng tôi khẳng định rằng chỉ đầu tư ngoài ngành khi có lãi để đảm bảo doanh nghiệp phát triển bền vững.

Với ban lãnh đạo, chúng tôi có những người biết việc và chúng tôi tin tưởng vào ban lãnh đạo, nhưng vấn đề là hệ thống phải thay đổi. Những người đang làm việc tại Vinashin hoàn toàn có thể làm tốt công việc của mình trong thời gian tới.

Điều lệ của Vinashin vẫn chủ yếu là từ thời còn là mô hình tổng công ty. Lần này sẽ có điều chỉnh như thế nào để không còn những “nạn nhân” như ông nói?

Điều lệ cũng đã có hiệu chỉnh rồi, tất nhiên là chưa phù hợp. Hiện nay chúng tôi bắt đầu trình lên Chính phủ điều lệ mới, trên chúng tôi là hội đồng quản lý và dưới là ban điều hành. Tức là điều lệ cũng có sự thay đổi cho phù hợp với chiến lược mới và phù hợp với việc kiểm soát.

Trước đây, đồng chí Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc điều hành, thì tới đây chúng tôi tách Hội đồng Quản trị ra, giữ vai trò điều hành về chiến lược; ban điều hành sẽ chịu trách nhiệm điều hành và chịu trách nhiệm trước Hội đồng Quản trị và trước pháp luật, đó là thay đổi lớn.

Thứ hai, chúng tôi cũng có hiệu chỉnh công tác quản lý, ví dụ trước đây giai đoạn đầu các đơn vị chưa giải quyết được một số vấn đề thì tập đoàn làm thay một số việc. Giai đoạn này tập đoàn chỉ làm công tác điều hành và quản lý vĩ mô, còn lại các đơn vị sẽ phải thực hiện các công việc cụ thể và chịu trách nhiệm.

Tuyệt đối không can thiệp quá sâu vào các doanh nghiệp thành viên và quyền chủ động của các doanh nghiệp phải được tôn trọng. Chúng tôi giữ vai trò kiểm soát và sẽ hành động khi có đơn vị có dấu hiệu bất ổn. Tôi cho cách làm này sẽ hiệu quả hơn.

Chúng tôi không tránh né

Liên quan đến việc kiểm điểm lãnh đạo các cấp, việc thực thi như thế nào?

Hiện nay, chúng tôi đã có thông báo đến tất cả các đồng chí trong ban chấp hành, trong Hội đồng quản trị, trong ban điều hành và tổng giám đốc các công ty lớn đều phải kiểm điểm cá nhân.

Có thể có đồng chí không sai cũng phải làm kiểm điểm, sau đó chúng tôi tổ chức một buổi kiểm điểm sâu sắc trách nhiệm từng cá nhân một, và cuối cùng sẽ là kiểm điểm tập thể để báo cáo lên cho Thủ tướng quyết định. Trách nhiệm tập thể thì tập thể phải chịu, trách nhiệm của cá nhân thì các nhân phải chịu, dù có thế nào chúng tôi cũng không né tránh.

Đợt này chúng tôi muốn làm kiểm điểm một cách kỹ càng, chúng tôi muốn dành thời gian để mọi người suy nghĩ về những điều đã qua và làm một cách trung thực, rõ ràng. Chúng tôi dự kiến đến cuối tháng 7 sẽ báo cáo lên Thủ tướng.

Lần trước, để tránh “xáo trộn” hoạt động doanh nghiệp, Thanh tra Chính phủ đã lui lại thời gian thanh tra Vinashin, nay có lùi hay dừng không?

Cái này là quyết định của Chính phủ, chúng tôi chưa nhận được thông báo về việc này nhưng sẵn sàng tiếp đoàn thanh tra, mặc dù Vinashin đang ở hoàn cảnh rất khó khăn.

Xét trên quan điểm cá nhân thì tôi cho là thanh tra lúc này chưa hợp lý, vì đằng sau chúng tôi là 5-7 vạn người, trước sau chúng tôi cũng phải đối mặt với thanh tra, nhưng quan trọng bậc nhất lúc này là phải ổn định cuộc sống cho người công nhân. Nói đây không phải là chúng tôi chạy hồ sơ, chạy giấy tờ. Chúng tôi không né tránh và sẵn sàng chịu trách nhiệm.

Vẫn có ý kiến cho rằng việc trì hoãn kế hoạch thanh tra có phải Vinashin đang né tránh làm rõ tình hình tài chính, công nợ… của tập đoàn?

Chuyện thanh tra kiểm tra là bình thường, mục tiêu cuối cùng khi thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp là làm cho doanh nghiệp tốt lên. Chúng tôi cũng không có ý kiến gì về vấn đề này, thật ra lúc đó đang tập trung giải quyết công việc của tập đoàn.

Khi chưa có quyết định tái cơ cấu của Thủ tướng, từ đầu năm ban lãnh đạo Vinashin đã có những cuộc họp khẩn cấp, tập đoàn đã tiến hành các cuộc họp bàn, tiếp xúc các doanh nghiệp đối tác trong và ngoài nước để chuyển nhượng những dự án không cần thiết.

Có nhiều lí do, nhưng chúng tôi cho rằng mục tiêu để chúng tôi cố gắng xử lý công việc của mình, thời điểm nào, ban lãnh đạo dù có bị xử lý kỷ luật nhưng làm thế nào để doanh nghiệp vẫn tồn tại và phát triển, đó là mục tiêu cao nhất.

Dư nợ không phải là lớn

Thông tin những con số đưa ra về dư nợ và nợ quá hạn của Vinashin là lớn, nhưng vì sao lại kéo dài mà không được tỏ tường?

Thật ra, nợ của Vinashin không hẳn là lớn. Với số tiền 80-90 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 4 tỷ USD, để phát triển một ngành công nghiệp tàu thủy như hiện nay, số tiền như thế vẫn có thể nói là khiêm tốn.

Muốn phát triển ngành đóng tàu đạt đến tầm Top 10 thế giới, kiểm soát hoàn toàn về mặt công nghệ, với khả năng nội địa hóa 60-70%, thì số tiền cần đầu tư lớn hơn rất nhiều, tất nhiên là việc giải ngân cần phải có lộ trình.

Đơn cử như một nhà máy đóng tàu lớn của Trung Quốc có thể tiêu tốn hết khoảng 3 tỷ USD rồi, ở đây là cả một ngành đóng tàu mới phát triển của Việt Nam.

Ý tôi là nợ không phải là nhiều so với việc phát triển một ngành, vấn đề nằm ở chỗ là phải sử dụng đồng tiền như thế nào, lộ trình như thế nào cho hiệu quả thì là cả một vấn đề cân nhắc xem xét.

Thông tin tổng tài sản của Vinashin là 90 ngàn tỷ, dư nợ là 80 ngàn tỷ đồng có chính xác không?

Con số về tổng tài sản 90 nghìn tỷ và dự nợ 80 nghìn tỷ của Vinashin chính xác khoảng 99%. Năm 2006 chúng tôi đã vay về 750 triệu USD và sau đó là 600 triệu USD, tổng cộng là hơn 20 nghìn tỷ đồng. Ngoài ra, ở thời điểm năm 2008, nợ tín dụng là hơn 20 nghìn tỷ đồng, nợ quá hạn hơn 3 nghìn tỷ đồng…

Vinashin tập trung huy động vốn vào những năm 2005, 2006, 2007, những năm 2008 và 2009 hầu như không huy động, riêng năm 2009 chủ yếu xử lý nợ.

Ông giải thích thế nào khi con số dư nợ của Vinashin chỉ khoảng 19,9 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2008, do một số cơ quan có trách nhiệm công bố, mà nay lại tăng lên nhanh thế?

Ý kiến cho rằng trong thời gian ngắn như vậy, dù đã có cảnh báo, nhưng Vinashin vẫn vay nợ thêm là hiểu sai. Bởi nếu huy động được số vốn khổng lồ như vậy thì Vinashin đã không gặp nhiều khó khăn về vốn như bây giờ.

Tôi mới lên nắm nhiệm vụ nên chưa tìm hiểu hết được, nhưng năm 2008 Vinashin đã bị “cắt cụt” tài chính. Nếu trong hai năm huy động được 60 ngàn tỷ thì quá tốt, vì số tiền huy động của Vinashin có thời hạn khoảng 10 đến 15 năm. Do đó, khá chắc chắn là trong hai năm 2008, 2009 Vinashin không huy động thêm vốn.

Cụ thể khi chuyển giao, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu và nợ quá hạn đến thời điểm này như thế nào?

Hiện nay, vốn chủ sở hữu theo quy định của Vinashin vào khoảng gần 14 nghìn tỷ đồng, nhưng Chính phủ chưa cấp đủ, mới cấp khoảng 9 nghìn tỷ đồng. Như vậy, dư nợ gấp chưa đến 9 lần, và tỷ lệ này giảm đi so với  năm 2008.

Nguyên nhân chủ yếu do các công ty trong quá trình hoạt động hình thành được tài sản, chúng tôi tiếp tục bổ sung theo hàng năm, theo kế hoạch. Ngoài ra, Nhà nước xác định vốn chủ sở hữu của Vinashin là 14 nghìn tỷ đồng thì mỗi năm cấp một phần vốn cho đến khi đủ số tiền đó.

Nợ quá hạn hiện nay chưa thống kê, do tôi mới điều hành ngày thứ hai, cần thời gian khoảng 1 tháng nữa mới có thể trả lời rõ ràng.

Petro Vietnam “tự tin”, Vinalines gặp khó?

Trong các phát biểu trước báo giới gần đây, Petro Vietnam tỏ ra khá “tự tin” khi nhận những dự án chuyển giao từ Vinashin, nhưng Vinalines có vẻ như đang gặp khó khăn?

Tập đoàn Dầu khí có tiềm lực và nhiều dự án phát triển ngành. Còn Vinalines chủ yếu vận tải biển, trong khi đó hoạt động này đang khó khăn, không được như trước nên nhận tàu về cũng có phần lo lắng. Tuy nhiên, nếu sau này thị trường đi lên, sôi động như 2006, 2007 thì họ có lợi.

Tất nhiên chúng tôi cùng chia sẻ Vinalines và có trách nhiệm đến cùng. Hoàn toàn không phải chúng tôi mất cân đối tài chính và “xuất khẩu” nợ như mọi người nghĩ. Về nguyên tắc, những khoản đầu tư không có cơ hội đầu tư tiếp thì chuyển nguyên trạng sang các đơn vị kia.

Khi chuyển nhà máy đóng tàu Dung Quất cho Petro Vietnam, Vinashin có chuyển giao công nghệ hay không? Có giúp Petro Vietnam điều hành một nhà máy đóng tàu hiệu quả không?

Chúng tôi có một nguyên tắc cao nhất là chuyển toàn bộ ban giám đốc, tất cả đội ngũ công nhân. Điều này đạt được hai mục tiêu, thứ nhất đội ngũ đó đã làm việc tại đó, chịu trách nhiệm về công việc được giao và họ sẽ là “quân” của Petro Vietnam và Vinalines, chúng tôi không giữ bất cứ một cán bộ nào lại cả.

Cái thứ hai, chúng tôi khẳng định một cam kết là khi cần đến lĩnh vực chuyên môn thì tập đoàn sẵn sàng hợp tác với các đơn vị. Đơn giản lúc này là tài sản quốc gia, là trách nhiệm của chúng tôi, và chúng tôi không nghĩ là của riêng ai, đơn vị nào.

Vậy ngược lại, nếu đã chuyển cả nhà máy, cả công nghệ thì các khách hàng này có còn đặt hàng Vinashin nữa hay không?

Dung Quất vừa qua trong quá trình xây dựng, chưa ra một con tàu nào cả. Nhóm khách hàng cho Dung Quất chúng tôi chưa thiết lập nhưng định hướng là chủ yếu tàu đóng cho dầu khi, nay thuộc về họ thì cảng thuận lợi cho các hoạt động đó. Petro Vietnam có thể hợp tác với chúng tôi hoặc có thể tự làm, nhưng sản lượng đó không nhiều.

Sức mạnh của Vinashin tập trung ở Nam Triệu, Hạ Long, Phà Rừng… những nhà máy đó, khách hàng của chúng tôi vẫn làm bình thường, không có ảnh hưởng gì cả. Còn Vinalines tất nhiên sẽ tiếp tục hợp tác với chúng tôi để đóng tiếp các con tàu của họ.

Vinashin hướng tới thị trường thế giới chứ không chỉ là một, hai đơn vị trong nước. Qua các hợp đồng ký đến nay, thế giới chiếm 80%, trong nước chỉ có 20%, và chúng tôi sẽ tiếp tục hoàn thiện để hướng ra thế giới.

Trong việc tái cơ cấu này, các ngân hàng tham gia cho Vinashin vay vốn các dự án điều chuyển nhận được những gì? Một số ngân hàng vướng vào các dự án thất thoát vốn sẽ như thế nào?

Các ngân hàng sẽ giải quyết được nhiều vấn đề. Thứ nhất, chúng tôi giảm được nợ quá hạn, các đơn vị kế tục đều có tiềm lực, cần đất cát của chúng tôi để tiếp tục đầu tư thì họ sẽ trả nợ ngân hàng.

Thứ hai, đối với các ngân hàng cho chúng tôi vay sẽ bắt đầu nhìn thấy Vinashin có tiềm lực, bắt đầu sản xuất lành mạnh trở lại thì rõ ràng sẽ tốt cho ngân hàng rất nhiều, đặc biệt là về niềm tin vào doanh nghiệp.

Cuộc thay đổi nào cũng kèm chấn động

Thông tin về tái cơ cấu vừa qua có ảnh hưởng đến các khách hàng quốc tế của Vinashin?

Đương nhiên, bất cứ một cuộc thay đổi nào cũng kèm chấn động cả, chúng tôi sẽ có giải thích với khách hàng. Sắp tới, khi đã củng cố tinh thần đội ngũ cán bộ trong tập đoàn, giải thích rõ ràng, thì chúng tôi sẽ có giải thích với khách hàng quốc tế.

Thực ra, khách hàng quốc tế họ đơn giản lắm, chỉ quan tâm đến nhà máy có hoạt động hay không, tài chính có ổn định không, lực lượng lao động có còn không, có tốt không thế là xong.

Hiện tại, chúng tôi chưa dành nhiều thời gian giải thích với khách hàng quốc tể bởi lý do là thị trường đang đi xuống, các tàu ký hiện nay hiệu quả chưa cao, trong khi chúng tôi phải củng cố, đánh giá lại, sửa chữa những vấn đề còn tồn tại để chúng tôi thực sự lành mạnh và giải quyết các con tàu còn lại.

Điều này có ảnh hưởng gì đến giá trái phiếu Vinashin huy động trên thị trường quốc tế do Chính phủ bảo lãnh?

Một số khoản có biến động. Chúng tôi thống nhất là sẽ thông báo lại cho các nhà đầu tư và tất nhiên khi tài sản đảm bảo thì các nhà đầu tư sẽ yên lòng.

Họ có nên lo cho khoản tiền mà họ đã đầu tư, thưa ông?

Đầu tư vào một công ty nào đó,  khi có biến động nhà đầu tư đều lo lắng. Nhưng chúng tôi khẳng định họ sẽ không bị mất tiền vì chúng tôi cân đối được giữa tiền và tài sản mà không phải đồng tiền mất đi.

Chúng tôi không bị động

Xin ông cho biết, việc tái cơ cấu tập đoàn lần này là do chủ kiến của Vinashin hay các bộ, ngành chủ động đề xuất lên Thủ tướng?

Thực ra về phía chúng tôi, Vinashin đã bắt đầu cuộc tự tái cơ cấu và khởi động từ đầu năm nay. Nhưng việc vừa qua là do các bộ ngành đề xuất và Chính phủ giải quyết. Chúng tôi không hề bị động vì đã có kế hoạch này từ rất lâu rồi.

Quyết định của Thủ tướng và kế hoạch tái cơ cấu của Vinashin không có nhiều khác biệt. Sau quyết định chuyển một số đơn vị vừa rồi, chúng tôi sẽ còn đề xuất thêm nữa, Thủ tướng có thể là can thiệp, hoặc chúng tôi sẽ tự giải quyết để thu hồi vốn về cho Vinashin.

Vậy việc chuyển một số đơn vị thuộc ngành nghề kinh doanh chính của Vinashin như Công ty Công nghiệp tàu thủy Lai Vu, Nhà máy Đóng tàu Dung Quất… có phải là “đề xuất thêm” của Vinashin không?

Những dự án chuyển giao vừa qua chủ yếu là các dự án đất đai như khu công nghiệp, ví dụ Nhà máy Đóng tàu Nhơn Trạch, chưa  xây dựng hoặc xây dựng ít. Nếu để đấy mà không có tiền xây thì nhà nước thiệt hại, người cần xây phải đi lo dự án, thủ tục đất đai cũng dở.

Hiện nay, chúng tôi chuyển chủ yếu các công ty trái ngành nghề như vận tải biển. Với trường hợp Công ty Công nghiệp tàu thủy Lai Vu, gọi tên là thế vì lúc đó các dự án đều muốn đưa chữ tàu thủy vào, đơn giản là thương hiệu và gần gũi về mặt quan hệ công ty mẹ con.

Thực ra, đây là một công ty sản xuất cơ khí, một số sản phẩm dùng cho ngành đóng tàu nhưng cũng dùng cho công nghiệp ngoài ngành, việc đầu tư khu công nghiệp cũng chưa được nhiều, còn nhiều đất trống, Vinashin chưa đủ lực đầu tư tiếp. Phải xác định đây là tài sản quốc gia, đơn vị nhận chuyển giao tiến hành đầu tư tiếp sẽ được lợi ích chung.

Còn Nhà máy Đóng tàu Dung Quất đúng là ngành nghề kinh doanh chính của Vinashin, nhưng hiện nay mới đầu tư khoảng hơn 5 nghìn tỷ đồng, muốn hoạt động hiệu quả phải đầu tư thêm 6 nghìn tỷ đồng nữa, trong đó phần vốn cho xây lắp chiếm khoảng 3-4 nghìn tỷ đồng, còn lại là vốn lưu động.

Đồng thời, Dung Quất phải tổ chức một lực lượng lao động khoảng hơn 8 nghìn công nhân để một năm có thể làm ra được tối thiểu 4 tàu 300 nghìn tấn thì Dung Quất mới đạt hiệu quả. Vinashin không đủ khả năng lo số tiền lớn như vậy trong thời điểm hiện nay.

Tập đoàn Dầu khí hiện tại là tập đoàn có tiềm lực và có nhiều chương trình phục vụ dầu khí như kho nổi dàn khoan, có điều kiện tài chính hoàn tất dự án, với mục đích xét về lợi ích quốc gia có lợi cho các bên.

Vấn đề không phải ở Vinashin mà quan trọng là ngành đóng tàu mạnh. Nếu Tập đoàn Dầu khí tiếp quản và có sự đầu tư kịp thời sẽ thành công, góp phần xây dựng một ngành đóng tàu mạnh. Chỉ là tái cơ cấu Vinashin, dù là chuyển đơn vị nào thì đó cũng là ngành đóng tàu của Việt Nam. Ngành đóng tàu chúng ta vẫn phát triển dù rời khỏi Vinashin.

Việc xử lý của Chính phủ như vậy đạt lợi ích quốc gia, đạt lợi ích các bên, cả bên giao và bên nhận.

Vậy sau khi chuyển đi trên 10 doanh nghiệp, “cơ ngơi” còn lại của Vinashin có hình thành ngành đóng tàu hoàn chỉnh?

Các nhà máy chủ lực sản xuất của Vinashin vẫn còn nguyên vẹn, Nam Triệu, Bạch Đằng, Hạ Long, Phà Rừng bao nhiêu năm nay hạ thủy tàu chủ yếu ở đó vẫn còn hoạt động. Những cơ sở sản xuất nội địa hóa như cần cẩu, thép, máy ép, máy lốc vẫn còn nguyên ở lại Vinashin và sức mạnh Vinashin không giảm sút. Theo thống kê hiện nay còn trên 100 công ty.

Đơn giản là một cuộc chuyển nhượng tài sản

Quá trình tái cơ cấu thực chất là chuyển phần vốn nhà nước tại Vinashin cho các đơn vị khác quản lý, hay Petro Vietnam và Vinalines phải trả tiền cho Vinashin?

Về nguyên tắc là chuyển nguyên hiện trạng, các doanh nghiệp nhận phải kế thừa cả những cái có hoặc không có lợi. Vinashin cũng vậy, cái nào có lợi hay không có lợi cũng phải chuyển.

Ví dụ, đa số các dự án không vấn đề gì, chủ yếu là đất. Chúng tôi cũng có thiệt thòi vì giá đất rõ ràng cao lên nhiều, thời gian thủ tục rất lâu, tuy nhiên, bên cạnh đó một số đơn vị làm ăn không hiệu quả. Cho nên, nhìn chung là cân bằng.

Nguyên tắc tối cao thì bỏ ra cái gì, chúng tôi lấy lại cái đó. Ví dụ chúng tôi bỏ 10 đồng xây dựng nhà máy Dung Quất thì chỉ lấy lại 10 đồng. Xin nói lại, đây không phải là chuyển nợ mà đơn giản là một cuộc chuyển nhượng tài sản.

Tức là cũng tương tự như chuyển nhượng cổ phần của Vinashin tại Bảo Việt cho SCIC?

Trường hợp cổ phần Bảo Việt, do vấn đề thị trường, dư luận báo chí cho rằng khi chuyển sang thì  Vinashin có lợi. Thật ra, đây lại không phải mua bán, chỉ chuyển chủ sở hữu. Bảo Việt và Vinashin đều là tập đoàn nhà nước và đây đơn giản là việc chuyển chủ sở hữu người đại diện chứ không phải là một cuộc mua bán.

Trong việc tái cơ cấu lần này cũng vậy, mặc thù đất rất đắt nhưng không được lấy hơn, lấy theo giá đền bù cách đây 3-4 năm, chứ không phải tính giá đất tại thời điểm hiện tại.

Chúng tôi đã thống nhất với các bên bàn giao là mời kiểm toán độc lập và đề nghị các bên chọn kiểm toán cho khách quan để khẳng định rằng chúng tôi không có gì không minh bạch trong chuyển giao mà là hết sự rõ ràng.

Khoản nợ quá hạn chuyển đi là bao nhiêu trong tổng số 20 nghìn tỷ đồng dư nợ đã được xác định trong các dự án, nhà máy của Vinashin sang Petro Vietnam và Vinalines?

Chúng tôi đang cho rà soát và thống kê cụ thể. Sau này chúng tôi sẽ công khai hết, không ngại ngần gì cả.

Theo ông, các đơn vị sẽ phải chuyển trả cho Vinashin bao nhiêu khi nhận các dự án lần này? Và tình hình tài chính của Vinashin có được cải thiện hơn không? Các dự án còn lại có nhận được thêm vốn để hoàn thành?

Các bộ phận đang thống kê, chưa có số liệu chính thức, nhưng theo tinh thần là các khoản chuyển đi khoảng hơn 20 nghìn tỷ đồng. Chúng tôi sẽ thu lại được một phần tiền Vinashin bỏ ra, còn lại tiền vay ngân hàng, các đơn vị nhận tài sản thì có trách nhiệm trả nợ số tiền hình thành nên tài sản đó.

Chắc chắn tình hình sẽ được cải thiện rõ ràng, khi chúng tôi không phải gánh các dự án trả lãi suất ngân hàng mà chưa sinh lãi, sẽ giảm chi phí rất nhiều cho Vinashin thời gian tới. Ngoài ra, Vinashin sẽ có thêm một nguồn tiền thu về để tập trung hoàn thiện các nhà máy chủ lực và có thêm vốn lưu động tập trung vào sản xuất.

Tin vào cơ hội tương lai

Sau tái cơ cấu, ngành đóng tàu chia nhỏ cho một số tập đoàn, tổng công ty tham gia và Vinashin mất vị thế hàng đầu?

Ngành công nghiệp tàu thủy không hề chia theo cái nghĩa đó, chỉ có một nhà máy Dung Quất. Nên hiểu là chia Vinashin, nhưng ngành đóng tàu Việt Nam thì còn nguyên vẹn và chắc chắn sau cuộc tái cơ cấu lần này nó sẽ tốt hơn chứ không giảm sức mạnh đi. Xét về ngành đóng tàu Việt Nam, xét về phía Vinashin đều có cái lợi, chúng tôi cũng được đi lên.

Điều này không có gì đặc biệt cả. Những năm khủng hoảng, Chính phủ một số nước cũng can thiệp làm nhỏ các doanh nghiệp lớn. Còn khi nó đã mạnh lên thì tự khắc lại tập hợp lại.

Các tập đoàn khác trên thế giới cũng thế, phải điều chỉnh theo thị trường, theo tình hình. Nếu tình hình tốt, cần khống chế thị trường, đảm bảo hiệu quả thì nó sẽ sáp nhập lại. Ngược lại, khi gặp khủng hoảng thì nó chia nhỏ ra để tồn tại. Đây là chuyện hết sức bình thường trong quan hệ kinh tế thế giới.

Dư luận cho rằng tập đoàn đang rất khó khăn, khác với quan điểm của Vinashin. Có thể giải thích thế nào?

Chúng tôi hoàn toàn lạc quan, trong vài năm tới thị trường đóng tàu sẽ khởi sắc và chúng ta hoàn toàn cạnh tranh được.

Chúng tôi luôn nói, trong tương lai Vinashin sẽ đi về đâu? Một doanh nghiệp muốn hoạt động được phải đạt được hai mục tiêu, thứ nhất là mục tiêu về xã hội, giải quyết được những vấn đề bức thiết đặt ra; thứ hai là theo cơ chế thị trường và có thể cạnh tranh được.

Xét về chiến lược biển, rõ ràng chúng ta chưa làm chủ được biển vì đơn giản chúng ta lạc hậu về công nghệ. Cho nên, ngành đóng tàu là cần thiết.

Cái thứ hai, xét về mặt kinh doanh, chúng tôi cho rằng ngành đóng tàu chúng ta hoàn toàn có thể cạnh tranh được vì hiện nay, các nước trên thế giới, châu Âu lương rất cao, khoảng 2 nghìn Euro/tháng. Nhật Bản và Hàn Quốc lương cũng rất cao, khoảng 2 nghìn USD/tháng. Trung Quốc là nước trả lương thấp như chúng ta, khoảng 3-4 nghìn Nhân dân tệ. Nhưng tôi tin rằng trong tương lai, Nhân dân tệ sẽ còn lên giá.

Như vậy, trong 10 năm nữa, khi đóng tàu khởi sắc thì mặt bằng lương chúng ta, tôi cho rằng khoảng 3-4 trăm USD. Mà ngành đóng tàu cần nhiều lao động, như vậy hoàn toàn là về mặt giá thành chúng tôi cạnh tranh được.

Thứ hai, về mặt công nghệ, quá trình những năm vừa rồi, nhưng cái chúng tôi đạt được cũng rất to lớn, bên cạnh những cái không được thì đội ngũ chúng tôi có trình độ tuyệt vời. Như tôi đã nói, trình độ đóng tàu của chúng ta không thua kém bất cứ một quốc gia nào cả.

Hơn nữa, trong lưu thông hàng hóa, vận tải biển vẫn là hình thái quan trọng bậc nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tàu khác với các loại hình vận tải khác là thời gian già đi nhanh chóng, nên yêu cầu đổi mới cao. Hơn nữa, các công ước đi biển mới ra đời với yêu cầu ngặt nghèo hơn về an toàn, về môi trường, cho nên hàng loạt các thiết kế cũ sẽ đều phải thay đổi.

Thị trường thế giới thì đang hồi phục. Chúng tôi cho rằng đến năm 2012-2014 sẽ hồi trở lại và nhu cầu vận tải biển sẽ rất lớn. Chính vì thế, chúng tôi hoàn toàn tin tưởng trong tương lai sẽ có thị trường và đó là cơ hội của chúng tôi.

http://vneconomy.vn/20100708085457907P0C5/tai-co-cau-vinashin-xau-ho-va-cay-dang.htm

http://vneconomy.vn/20100708084734448P0C5/tai-co-cau-vinashin-cuoc-thay-doi-nao-cung-kem-chan-dong.htm

Lê Trung Thành: Vinashin – Chuyện bây giờ mới kể

Bauxite Viet Nam 21/7-26/7

Cần táo bạo hơn nữa” và khoản vay 750 triệu USD

TCty công nghiệp tầu thủy VN chính thức ra đời tháng 1.1996 với các doanh nghiệp đóng tàu truyền thống như Bạch Đằng, Sông Cấm, Hạ Long, Cần Thơ,… Năng lực đóng mới rất hạn chế, trình độ sản xuất manh mún, lạc hậu nên ngay tại chiến lược phát triển ngành đóng tàu giai đoạn 2001-2010, Chính phủ phê duyệt tổng mức đầu tư chỉ ở mức “rất nhẹ nhàng”: 450 triệu USD. Trong  khoảng 10 năm kể từ ngày ra đời, VINASHIN hầu như chỉ  đóng tàu trọng tải nhỏ dưới 6.500DWT đồng thời tiến hành vay vốn cải tạo, nâng cấp Nhà máy đóng tàu Hạ Long, Nam Triệu để có thể đóng mới tàu 50.000DWT. Cũng trong giai đoạn này, Liên doanh sửa chữa tàu Huyndai – Vinashin được thành lập tại khu vực Hòn Khói – Ninh Hồa, Khánh Hòa. Đây là cơ sở đóng và sửa tàu lớn nhất  Đông Nam Á, với nhiều thiết bị hiện đại và có 2 ụ khô có thể sửa chữa được tàu 400.000 DWT và đóng tàu 100.000DWT.

Từ cuối năm 2003, Vinashin tiến hành đàm phán với đại diện của Công ty đầu tư Graig Investment LTD, Anh Quốc để nhận đóng mới 15 tàu loại Diamont 53 – trọng tải 53.000 DWT trong tổng số 27 tàu mà hãng này đang đặt mua tại Trung Quốc và Việt Nam. Tin tức Vinashin sẽ có bản hợp đồng “vĩ đại” nhất trong lịch sử đóng tàu Việt Nam được truyền khắp nơi và đến tai các vị lãnh đạo cao cấp. Ngày 14.2.2004, ông Trần Đức Lương – Chủ tịch nước đến thăm Nhà máy đóng tàu Hạ Long và tại đây, trong bài diễn văn khen ngợi nhà máy, ông khuyến khích Vinashin theo dạng bức điện văn nổi tiếng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân năm 1975. Ông Trần Đức Lương chỉ đạo: “Các đồng chí đã táo bạo cần táo bạo hơn nữa, đã tăng tốc cần tăng tốc nhanh hơn nữa để đưa ngành công nghiệp đóng tàu của nước ta ngang tầm với các nước tiên tiến” … Câu nói này mở ra cho Vinashin (VNS) một cánh cửa rộng thoáng nhất và kích thích những người quản trị Vinashin “táo bạo hơn nữa” mà cú đầu tiên là thò tay ký bản hợp đồng đóng tàu với Hãng Graig vào tháng 4.2004. Theo công bố của Vinashin vào năm 2005, mỗi con tàu 53.000DWT có giá 26,5 triệu USD và lợi nhuận thu được khoảng 0,33 triệu USD từ mỗi sản phẩm (khoảng 1,2% doanh thu). Thế nhưng, ngay lúc ký kết xong nhiều nhà kinh tế hàng hải đã hết sức ngỡ ngàng vì Vinashin đã nhận đóng mới với giá quá thấp so với thị trường thế giới lúc đó khoảng 32,6 triệu USD một chiếc. Điều đó có nghĩa là Vinashin “tự nguyện” mất 6,1 triệu USD mỗi con tàu. Nếu nhân với 15 con tàu, Vinashin đã “đánh rơi” 90 triệu USD! Hãng đặt mua tàu với giá hời nhưng lại rất an tâm khi có tới 3 ngân hàng lớn của Việt Nam đứng ra bảo lãnh thực hiện hợp đồng cho Vinashin đóng tàu là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng Công thương và Ngân hàng Ngoại thương còn Quỹ hỗ trợ phát triển (DAF) cho Vinashin vay 1.200 tỷ đồng. Sau khi có bản hợp đồng này, Vinashin tiến hành dự thảo lại Chiến lược phát triển ngành đóng tàu và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án điều chỉnh giai đoạn 2005-2010, định hướng đến năm 2015” theo quyết định 1106TTg ngày 18.10.2005. Bản đề án điều chỉnh đưa ra các mục tiêu đầy tham vọng nhằm mau chóng đưa Việt Nam thành quốc gia đóng tàu mạnh trong khu vực và trên thế giới, nội địa hóa sản phẩm tới 60% và có khả năng đóng mới tàu chở hàng 80.000DWT, tàu chở container đến 3.000 TEU, đóng tàu chở dầu 300.000 DWT, sửa chữa tàu 400.000 DWT… Cuối cùng, đề án khẳng định quyết tâm sẽ đạt tổng sản lượng đóng mới vào năm 2010 là 3 triệu T/năm, tổng kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD và đến năm 2015 đạt 5 triệu T/năm (chiếm xấp xỉ 10% thị phần đóng tàu thế giới). Muốn đạt các chỉ tiêu “vĩ cuồng” nêu trên, Vinashin cần vốn đầu tư 3 tỷ USD cho 5 năm (2005-2010). So với dự tính ban đầu cho giai đoạn 2001-2010 là 450 triệu USD, thì nó gấp … 7 lần để gấp gáp thực hiện hàng loạt dự án mới.

Thủ tướng đã duyệt, Vinashin cứ theo vậy mà đòi vốn nên phương án phát hành trái phiếu Chính phủ ra thị trường tài chính quốc tế lần đầu tiên mau chóng được sự “đồng thuận” cao từ Chính phủ tới Bộ Tài chính và bên thụ hưởng là Vinashin. Thông qua các nhà môi giới tại thị trường chứng khoán Singapore ngày 3.11.2005, Chính phủ quyết định phát hành 750 triệu USD trái phiếu với lãi suất 7,125%/năm. Trước đó, theo Quyết định 914 ngày 1.9.2005, Chính phủ cho Vinashin vay lại số tiền này. Bà Lê Thị Băng Tâm, Thứ trưởng Bộ Tài chính dẫn đầu đoàn sang Singapore, Hồng Kông, London, NewYork từ ngày 20 đến 28.10.2005 đã nhận được số tiền cần vay vì lãi suất khá hấp dẫn các nhà đầu tư tài chính quốc tế. Đó cũng là một sự kiện lớn thể hiện sự hội nhập của Việt Nam vào thị trường, mở ra một kênh huy động vốn mới đầy tiềm năng.

Theo thời giá năm 2005, 750 triệu USD tương đương 12.085 tỷ đồng VN nhưng sau khi thanh toán phí phát hành trái phiếu, Vinasin thực nhận có 731,45 triệu USD. Khoản vay này phải trả nợ gốc một lần vào ngày 15.1.2016 và mỗi năm phải trả 51,56 triệu USD tiền lãi chia làm hai lần trong năm (ngày 15.1 và 15.7) thông qua tài khoản của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển VN. Vinasihn đã lên một bản kế hoạch phân bổ nguồn vốn này cho… 180 dự án thuộc giai đoạn 2006-2010 với tỷ lệ 50% để nâng cấp, mở rộng đầu tư xây dựng mới các nhà máy đóng tàu, sửa chữa tàu, 30% đầu tư vào các dự án nhằm nội địa hóa các sản phẩm tàu thủy, sản xuất thép tấm, sản xuất động cơ, sản xuất container… và 20% còn lại dành để phát triển đội tàu. Có tiền trong tay, VNS bỗng chốc trở thành “Thánh Gióng”, các vị lãnh đạo tràn trề hy vọng rằng Vinashin sẽ sử dụng số tiền này để đưa Việt Nam thành cường quốc đóng tàu đứng thứ 5 trên thế giới sau vài năm nữa! Tương lai của các cụm công nghiệp tàu thủy trải khắp bờ biển hiện ra thật rực rỡ. Nào là Khu công nghiệp An Hồng (Hải Phòng) sản xuất các loại động cơ, nồi hơi tàu thủy, trang trí nội thất, Khu công nghiệp Lai Vu – Hải Dương sản xuất container và hy vọng sau một năm sẽ có loại container mang nhãn “Made in Việt Nam” ra lò, Khu công nghiệp Cái Lân thì triển  khai dự án cán nóng thép tấm 500.000T/năm và chỉ năm sau sẽ không còn phải nhập thép đóng tàu nữa! Còn Khu công nghiệp Dung Quất sẽ có Nhà máy đóng loại tàu 100.000-150.000 DWT rồi nâng lên thành 300.000 DWT, tiến tới sản xuất các giàn khoan dầu khí …

Kế hoạch rồng bay, phượng múa của Vinashin có vẻ hợp với chiến lược phát triển kinh tế biển khiến các vị càng ủng hộ Vinashin hết mình nên khi ông Phạm Thanh Bình kêu rằng 750 triệu USD chỉ mới đáp ứng 49% số vốn cần có (23.000 tỷ đồng chia cho 180 dự án) thì họ đồng ý cho Vinashin vay nợ Ngân hàng Credit Suisse (Thuỵ Sỹ) thông qua chi nhánh của ngân hàng này tại Singapore 600 triệu USD và cho phát hành trái phiếu trong nước liên tục 5 đợt nữa. Đây là “thời cơ vàng” để Vinashin vung vít khắp nơi nhằm khoa trương thanh thế! Vì vậy, Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Vinashin được thành lập tháng 5.2006 rất dễ dàng nhờ hai chữ “thí điểm” giống như thời chuyển Hợp tác xã cấp thấp lên Hợp tác xã cấp cao vào những năm bảy mươi của thế kỷ trước, ông Chủ tịch Phạm Thanh Bình ký quyết định thành lập hàng chục doanh nghiệp thành viên đồng thời tiếp nhận hơn một trăm doanh nghiệp khắp ba miền xin đổi mác Vinashin với đủ ngành nghề, từ sản xuất sơn, khung nhôm… đến nuôi cá giống, nấu bia “cỏ”. Một loại HTX cấp cao “hổ lốn” nhưng lại được bao biện dưới hình thức “Tập đoàn đa ngành nghề”. Kỹ sư vỏ tàu Bình “sếu” dễ thương, dễ mến ngày xưa không còn nữa mà thay vào đó là một ông Chủ tịch, Tổng giám đốc Vinashin khệnh khạng, kênh kiệu xuất hiện ở khắp mọi nơi kèm theo với thói hãnh tiến vì ông ta đã “nắm được thóp” của nhiều quan chức.

Chính lúc Vinashin đang có đà tiến thì cũng là lúc bắt đầu có những dấu hiệu tụt dốc, hư hỏng. Những lời cảnh báo đầu tiên về sự tha hóa của Vinashin xuất hiện nhưng chẳng có ai để ý tới!

Những dự án hão huyền tiêu tốn 2000 tỷ!

Đến bây giờ, nhịều người đã biết chuyện Cty Vận tải viễn dương Vinashin (VNSlines) vung hơn 200 triệu USD (khoảng 3.136 tỷ đồng) để ôm về tới 6 con tàu có tuổi từ 22 đến 26 năm trong số 9 tàu của Công ty này. Mọi người cũng biết cả chuyện bốn, năm chiếc tàu của VNSlines đang bị cầm giữ ở Thiên Tân, Thượng Hải (Trung Quốc) và ở Cảng Haidia (Ấn Độ)… vì nhiều lý do. Vậy mà, cũng có tàu của vài thành viên Tập đoàn Vinashin (VNS) từng bị cầm giữ ngay tại… Cảng Sài Gòn nhiều tháng, có chiếc bị giữ cả năm trời. Nguyên nhân đơn giản thôi: Tập đoàn “mẹ” và mấy ông con đưa tàu vào cảng xếp, dỡ, neo, đậu nhưng “quên” trả tiền cho cảng (!). Số dư nợ đã có lúc lên tới… gần 90 tỷ đồng. Ông Lê Công Minh – Tổng Giám đốc Cảng Sài Gòn buộc phải ra quyết định “nếu tàu của VNS vào cảng không trả tiền trước” thì không “tiếp đón” nữa! Tuy nhiên, bài báo này lại muốn viết kỹ hơn vế cách xài tiền thông qua mấy “dự án hoành tráng” khác để bạn đọc có thêm những phút “thư giãn” gây sốc …

Có thể vì ông Trần Văn Liêm – “nguyên” Tổng giám đốc VNSlines đã một thời làm Trưởng phòng Thương vụ của Liên doanh Vietsovlighter chuyên khai thác Lash theo công nghệ của Liên xô nên ông đã thuyết phục được Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc TCty CNTT VNS (Vinashin) Phạm Thanh Bình phê duyệt dự án đóng mới tàu Lash “mẹ” và hàng trăm xà lan Lash (con) để công ty VNSlines khai thác trên tuyến biển nội địa. Đứng về mặt lý thuyết, dùng tàu “mẹ” chở 40 xà lan (con) chạy vào sâu nội địa sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian, tiền của, nhưng ngay cả Liên doanh Vietsovlighter với đội tàu mẹ và cả ngàn xà lan con hùng mạnh vẫn phải “bó gối qui hàng” trước mạng lưới tàu thuyền dày đặc ở đất Cửu Long và rồi sau nhiều năm thua lỗ, Liên doanh “kết thúc” sứ mạng lịch sử vào năm 1998. Gần một ngàn xà lan (con) được bán thanh lý hoặc gán nợ cho phía Việt Nam dần dần biến thành sắt vụn vì những ông chủ mới khai thác không hiệu quả. Vậy mà, lãnh đạo VNS không đánh giá được hậu quả tai hại mà Liên doanh Vietsovlighter đã phải gánh chịu nên vẫn giao cho Viện khoa học Công nghệ tàu thủy thiết kế tàu Lash mang ký hiệu H165 đi biển cấp II hạn chế. Thiết kế chưa ráo mực, dự án H165 được ghép ngay cái tên rất mỹ miều “Dự án thí điểm đóng mới” và ngay lập tức, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và giao cho Bộ Tài chính bổ sung vào danh mục “đóng tàu mẫu” làm cơ sở để Quỹ hỗ trợ phát triển cho VNS vay 70% kinh phí đóng tàu.

Ngày 22.7.2005, VNS đã ký kết hợp đồng tín dụng với Quỹ hỗ trợ phát triển Hải Phòng về khoản vay 309,896 tỷ đồng để triển khai kế hoạch đóng tàu H165. Cùng lúc ấy, ông Phạm Thanh Bình quyết định giao cho Công ty Công nghiệp tàu thủy Nam Triệu (NASICO) đóng chiếc tàu này và thuê Cục Đăng kiểm Việt Nam giám sát, cấp đăng ký cho tàu. Theo thiết kế, tàu dài 183m, rộng 25m và chiều cao mạn 12m, trọng tải 10.900 DWT, có thể chở được 38-40 xà lan con trọng tải 200 DWT mỗi chiếc. Ngay lập tức, Nasico triển khai thực hiện dự án và tới ngày 16.10.2006 làm lễ hạ thủy bước vào giai đọan lắp đặt máy móc thiết bị, nghi khí hàng hải, trang trí nội thất và lắp đặt cẩu dàn 300T. Nasico hứa sẽ giao tàu vào tháng 8.2007 nhưng rồi mãi tới ngày 10.2.2008 (ngày 4 tết Âm lịch Mậu Tý) mới chính thức bàn giao cho Công ty Vận tải biển viễn dương VNS. Tổng chi phí đóng mới con tàu Lash H165 (và được mang tên Lash Sông Gianh) khoảng 400 tỷ đồng.

Có tàu Lash (mẹ) Sông Gianh chưa đủ nên trong thời gian Nasico đóng tàu mẹ thì ông Phạm Thanh Bình giao cho Nhà máy đóng tàu Sông Lô đóng mới tàu đẩy xà lan công suất 190cv, giao cho Nhà máy đóng tàu Bến Kiền đóng tàu công tác 2x192cv, đồng thời giao cho các nhà máy đóng tàu Sông Cấm, Sông Lô, Sông Đào, Hải Dương, Bến Thủy, Đà Nẵng, Cần Thơ đóng mới 120 xà lan (con) trọng tải 200DWT có kích thước dài 20m, rộng 10,2m, cao 2,5m. Theo kế họach, dây chuyền công nghệ thứ nhất bao gồm tàu Lash Sông Gianh và xà lan, tàu đẩy, tàu công tác, tàu hút bụng công suất 500m3/h (để nạo vét luồng tàu) sẽ phục vụ công tác chuyển tải, vận chuyển clinke, xi măng cho Nhà máy xi măng Sông Gianh do Tổng công ty xây dựng Miền Trung làm chủ đầu tư, xây dựng tại xã Tiến Hóa, huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình, công suất 1,4 triệu tấn/năm. Để có nơi trú đậu, kéo thả xà lan, Vinashin lập dự án đầu tư xây dựng Cụm công nghiệp tàu thủy Bắc Sông Gianh giai đoạn 1 trên diện tích 20,49ha với kinh phí 200 tỷ đồng.

Dự án tưởng như đồng bộ, hiện đại này được ca tụng “nhiệt liệt” khi chạy thử chuyến đầu tiên chở than từ Quảng Ninh vào Sài Gòn. Hàng vào Nam thì có, hàng ra Bắc thì không nên mấy chục xà lan rỗng ruột phải gửi tạm ở vùng nước của mấy cơ sở đóng tàu của VNS. Hơn hai năm phơi trong nắng gió, chắc chẳng mấy chiếc còn nguyên vẹn. Còn tàu mẹ, phần không có hàng chuyên chở hai chiều, phần thì máy móc, thiết bị chưa đồng bộ và có nhiều khiếm khuyết nên đành nằm một góc chờ… cơ hội. Có tờ báo tính toán, nếu mang bán sắt vụn may ra còn thu lại được chừng 50 tỷ. Dây chuyền công nghệ Lash Sông Gianh đầu tiên gặp chuyện không may và có nguy cơ thua lỗ nếu tiếp tục hoạt động đã phá tan giấc mộng đóng tiếp tàu Lash Sông Gianh thứ hai và đóng thêm 80 xà lan con cho vừa đủ 200 chiếc, đóng thêm 15 tàu đẩy cho vừa chẵn 20…

Nhưng tính sơ sơ, chỉ với dây chuyền công nghệ lash đầu tiên đã được đóng mới hoàn chỉnh thì… dự án nửa vời này đã chi khoảng 600-650 tỷ đồng. Vốn vay phải lo trả lãi, trả gốc nhưng cũng chẳng mấy ai chịu trách nhiệm. Cái được nhất là Ông Trần Quang Vũ, Tổng giám đốc Nasico “có dấu hiệu vụ lợi qua dự án Sông Gianh” như báo Đại đoàn kết đã vạch ra, vẫn chễm chệ ở ngôi điều hành Tập đoàn Vinashin!

***

Trong đám tàu cũ, nát của VNSlines có một chiếc tàu nát nhất mang tên “Bạch Đằng Giang”. Số phận của nó khá ly kỳ và “bí mật” bởi hồ sơ gốc con tàu nay không biết thất lạc ở đâu. Có thể do vô tình, có thể do cố ý nên khi các cơ quan chức năng hỏi đến, chẳng ai xuất trình được… nhưng, chỉ biết rõ rằng, nó được Công ty xuất nhập khẩu vật tư tàu thủy VNS mua về từ năm 2000 và đặt cho nó cái tên khá “oai hùng” là “Bạch Đằng Giang”. Nó cũng chở hàng, nó cũng có đủ cơ phận như bao tàu khác nhưng cách sử dụng lại hết sức đặc biệt. Muốn đưa hàng lên tàu, người ta phải bơm nước cho tàu chìm xuống rồi tàu chở hàng khác “chạy” vào đưa hàng lên boong hoặc bụng tàu. Sau khi nhận đủ hàng người ta dùng máy nén khí đẩy nước ra cho tàu nổi lên. Công đoạn này gần giống như hoạt động của ụ nổi sửa chữa tàu. Cuối năm 2002, khi đang bơm nước ra thì hệ thống kích nổi bị trục trặc, tàu Bạch Đằng Giang… từ từ chìm ở vùng Vịnh Hạ Long. Sau hàng tháng trời tìm phương án cứu hộ, lúc 18 giờ ngày 11.2.2003, VNS mới trục vớt “thành công” tàu Bạch Đằng Giang. Ngâm trong nước biển dài ngày, máy chính, máy phụ và hầu như các thiết bị trên tàu bị hư hại nặng, VNSlines mất một khoản tiền không nhỏ để sửa chữa và nâng cấp Bạch Đằng Giang nhưng khai thác không đạt hiệu quả mong muốn. Để nằm phơi sương gió mãi thì lãng phí phương tiện và vẫn tốn chi phí bảo quản, khấu hao tài sản nên ông Phạm Thanh Bình nghĩ ra một phương án “tuyệt chiêu”. Bằng quyết định số 473 CNTT-DT ngày 31.3.2006, ông “cho phép” VNSlines chuyển giao tàu Bạch Đằng Giang cho Nasico với “giá gốc” 155 tỷ đồng (làm tròn). Sau đó, ông bàn bạc với ông Trần Quang Vũ – lúc đó là Tổng giám đốc Nascio – “người cộng sự” gần gũi và sẵn sàng “chia lửa” với ông Phạm Thanh Bình. Hai ông đều đắc ý triển khai một dự án hoành tráng nhất thể hiện “bước phát triển vược bậc về công nghệ đóng tàu của Việt Nam”. Đó là dự án hoán cải tàu Bạch Đằng Giang thành khách sạn nổi bốn sao lộng lẫy và được thông qua theo quyết định số 943 CNTT ngày 15.6.2006 do ông Phạm Thanh Bình ký. Dự án sẽ đầu tư 1.000 tỷ để biến con tàu ma nát nhoét thành khách sạn nổi có chiều dài gần 200 mét, rộng 24.4 mét và chiều cao mạn 10.2 mét. Sau khi đóng xong nó sẽ được kéo ra neo đậu tại đảo Cát Bà khai thác phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước. Đến ngày 20.9.2006 ông Trần Văn Liêm chính thức bàn giao tàu Bạch Đằng Giang cho ô.Trần Quang Vũ kèm theo một bản hợp đồng đóng mới một tàu chở hàng trọng tải 54.000 DWT, một tàu chở dầu 13.500 DWT.

Nhận tàu rồi mà thiết kế khách sạn nổi chưa xong nên ông Vũ cho đập phá, cắt bỏ bê tông… và lại chờ, lại đợi. Tính ra, Nasico bỏ gần 14 tỷ vào công việc dọn dẹp con tàu siêu trường, siêu trọng này. Chờ mãi chẳng thấy tiền rót cho dự án, ông Vũ có vẻ chán nản nên ngày 14.6.2007 ông đệ đơn xin ông Bình cho “thanh lý” mặc dù chỉ trước đó hơn 20 ngày, vợ chồng Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đến thăm Nasico. Hai ông bà đi thăm nhà ăn, nhà trẻ, trường mẫu giáo, rồi đi thăm khu đóng tàu 53.000 DWT, dạo ngang dự án khách sạn nổi bốn sao Bạch Đằng Giang… và khen Nasico hiện đại, giỏi giang, dám nghĩ, dám làm. Vậy mà… Ông bà Thủ tướng vừa đi khỏi, Nasico phải xin bán con tàu với giá khoảng 160 tỷ, chào mãi mới có một khách trả giá cao nhất 75 tỷ nên ông Bình quyết định cho tháo máy móc đưa vào kho bảo quản và đồng ý bán xác tàu với giá hơn 66 tỷ đồng. đương nhiên tính cả giá mua tàu và chi phí phá dỡ, Nasico mất toi hơn 102 tỷ đồng sau một năm mơ màng về cái khách sạn nổi 4 sao. Nhiều người quan tâm đến dự án này nói nhỏ với nhau: “Ông Vũ chẳng mất gì đâu, cú này là “trò chống lưng cho nhau”, ông Bình sẽ tìm cách trả ơn ông Vũ mấy hồi…”.

***

Dự án tổ chức vận tải hành khách, hàng hóa trên biển tuyến Bắc-Nam bằng tàu biển “cao tốc” của VNS được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt ngày 12.4.2007 với nội dung cho VNS mua và đóng mới một số tàu, có tổng mức đầu tư từ 1.5 đến 2 tỷ USD. Chắc chắn là, các tác giả của dự án này phải “hót” hay lắm nên được ông Hồ Nghĩa Dũng- “ tân “ Bộ trưởng GTVT-chấp thuận ngay trước khi gửi lên thủ tướng, Ông Trần Văn Liêm, Tổng Giám đốc VNSlines vội vã bay sang ý cùng một nhà “môi giới” thân quen, đã sát cánh bên ông qua nhiều phi vụ mua tàu cũ. Anh ta còn trẻ, tuy chẳng được học hành bài bản như ông nhưng nhanh nhẹn, chịu chơi, chịu chi, sống ở sài gòn trong một gia đình có nghề đi biển, anh ta có nhiều mối quan hệ, vì vậy chuyện chắp nối trở thành “đệ tử ruột” của Tổng giám đốc VNSlines là điều dễ hiểu. Chuyến đi mua tàu chở khách được sắp đặt trước nên khá mau mắn, ông Liêm và nhà môi giới trẻ tuổi – Giang Kim Đạt – quyết định chọn mua tàu Cartour cao 7 tầng. Đây là loại tàu Ro-pax vừa chở người, vừa chở ô-tô trên các tuyến biển tầm trung bình. Nó được hạ thủy ngày 8.4.2001 và tới ngày 28.9.2001 bàn giao cho chủ tàu Lavantina Transporti Bari. Tới tháng 10 năm 2001, chủ tàu ký hợp đồng cho Công ty du Lịch Lữ hành Caronte & Tourist thuê dài hạn để vận chuyển khách du lịch đi bằng ô-tô từ Messina đến Salerno miền Trung nước Ý. Sau khi ký kết hợp đồng, chuyển trả tiền, ông Liêm làm thủ tục giao nhận tàu vào ngày 15.10.2007, tạm đặt tên là Vinashin Prince rồi nhổ neo về Việt Nam. Tới ngày 11.11.2007 đến vùng vịnh Hạ Long và chính thức mang tên tàu Hoa Sen. Tổng chi phí mua tàu 60 triệu Euro tương đương 1.300 tỷ đồng. Cả lãnh đạo Tập đoàn kinh tế Vinashin mơ mộng rằng tàu sẽ đầy ắp khách ở bốn tầng trên và hai tầng dưới chật kín ô-tô chạy từ Cái Lân – Quảng Ninh về cảng Chân Mây – Huế, tiếp tục hành trình vào ngắm Nha Trang rồi cập bến cuối ở cảng Nhà Rồng. Tuy nhiên, ngay từ chuyến khai trương, tại Hòn Gai lúc 16h ngày 13.12.2007, cụ Bình Tâm – nguyên Thứ trưởng Bộ GTVT, vị khách cao tuổi nhất đoàn chỉ khen “tàu đẹp” mà không nói lời nào về hiệu quả khai thác con tàu khi phóng viên báo Sài Gòn giải phóng tới phỏng vấn cụ. Với kinh nghiệm, với dự cảm của một người từng lãnh đạo Cục vận tải Thủy, cụ Bình Tâm thấy trước sự thất bại thảm hại của dự án đầy phiêu lưu, nông cạn và bất chấp thực tế của những người lãnh đạo tập đoàn Vinashin.

Tàu càng chạy càng ít khách nhưng công bằng mà xét, nhiều lái xe đông lạnh, xe tải chở hoa quả, nông sản từ miền Nam ra Móng Cái rất vui mừng. Họ cho xe lên tàu rồi tha hồ nghỉ ngơi, ngắm biển và bớt hẳn nỗi vất vả, bớt khoản nộp mãi lộ trên đường cái quan. Tiếc rằng số lượng xe vẫn ít, không giúp VNSlines bù vào khoản lỗ mỗi chuyến gần 1.5 tỷ đồng.

Lỗ lớn, dự án có nguy cơ phá sản không làm cho Vinashin chùn bước. Công văn xin mua tiếp con tàu cỡ Hoa Sen thứ 2 được gửi đến Bộ GTVT. Lần này, Ông Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng hơi cảnh giác nên chuyển cho Thứ trưởng Lê Mạnh Hùng xử lí. May mà có ông Lã Ngọc Dũng – Kỹ sư vận tải biển khóa 6 (từng làm thư kí cho bộ trưởng Bùi Danh lưu, Bộ trưởng Lê Ngọc Hoàn) đang làm Trợ lý cho Thứ trưởng Lê Mạnh Hùng – đã kịp thời can gián. Do vậy, không được sự đồng ý của Bộ GTVT, con tàu thứ 2 dự kiến đưa về việt nam giữa năm 2008 bị đình hoãn.

“Thua keo này bày keo khác”, VNS “cố đấm ăn xôi”, đệ trình lên Thủ tướng Chính phủ đề án “Xây dựng và khai thác tuyến vận tải khách và hàng hóa cao tốc Bắc – Nam trên biển” có tổng mức đầu tư 19.600 tỷ đồng. Theo đó, bằng ba nguồn vốn: 51% từ phát hành trái phiếu, 42% vay thương mại và 7% vốn tự có, VNS xin đầu tư 6 tàu chở khách trong giai đoạn 2007 – 2011. Vừa mua, vừa đóng, VNS sẽ đóng mới tàu chở tới 2.700 khách và chở 1.000 ô tô, tốc độ 30 hải lý/h tương đương 55km/h. VNS hứa hẹn, nếu dự án được triển khai, VNS sẽ giải quyết việc làm cho hơn ngàn người, mỗi năm nộp gần 300 tỷ thuế thu nhập và hàng trăm tỷ tiền thuế và tiền lệ phí… cho ngân sách nhà nước!

Lại may (cho những người nộp thuế), Bộ GTVT không chấp thuận nên đề án chưa được Thủ tương phê duyệt nhưng có thể hơi giống dự án đường sắt cao tốc Bắc – Nam vừa bị Quốc Hội “bác” hồi tháng 6, có dịp thuận tiện nào đó, chắc mấy vị lãnh đạo VNS sẽ tiếp tục trình dự án này???

Trong khi chờ đợi, tàu Hoa Sen được kéo vào nhà máy sửa chữa tàu biển Huyndai-Vinashin ở Khánh Hòa để sửa chữa. Lúc này người ta mới biết tàu Hoa Sen đã từng bị thủng đáy trong thời gian khai thác ở Ý. Sửa chữa xong, nó chạy về vùng nước thuộc Công ty công nghiệp đóng tàu Cam Ranh neo đậu. Dù tàu không chạy mà vẫn phải cho máy nổ, phải có người canh giữ. Mỗi năm phải trả lãi vay gần 80 tỷ đồng, cho nên dù có chuyển sang Tổng Công ty hàng hải Việt Nam, tàu Hoa Sen vẫn sẽ là gánh nặng cho ông chủ mới.

***

Thế là, với “ba giấc mộng” hão huyền như trên đã dẫn, Tập đoàn kinh tế Vinashin đã tiêu tốn trên dưới 2.000 tỷ đồng. Phần nào ăn được, bòn rút được đã chạy vào túi không ít người tham gia dự án. Phần không ăn được là những con tàu, những chiếc xà lan vô hồn đã và đang xuống cấp, rỉ sét, hư hỏng từng ngày và chẳng mấy chốc sẽ biến thành sắt vụn.

Ai sẽ chịu trách nhiệm vì những giấc mộng hão huyền này???

Câu trả lời xin dành cho các cơ quan chức năng còn tâm huyết với đất nước!

HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

http://boxitvn.blogspot.com/2010/07/vinashin-chuyen-bay-gio-moi-ke-bai-1.html

http://boxitvn.wordpress.com/2010/07/26/vinashin-chuyện-by-giờ-mới-kể-bi-2/

Posted in Uncategorized | Để lại phản hồi

DNNN 7/2010

Tin

Luật DNNN hết hiệu lực-hàng loạt DNNN chuyển thành Cty TNHH một thành viên: 1/7, Luật Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chính thức hết hiệu lực, tất cả các DN phải tuân theo Luật Doanh nghiệp. Sát giờ G, hàng loạt Cty mẹ, tập đoàn, TCty nhà nước đã chuyển đổi thành Cty TNHH 1 thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, như: TCty CN xi măng (Vicem), TCty Đường sắt VN, Tập đoàn Dệt may VN (Vinatex), Tập đoàn Điện lực VN (EVN), Tập đoàn Sông Đà, Tập đoàn Phát triển Nhà và Đô thị (HUD), Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel), 2 TCty lương thực miền Bắc và miền Nam (Vinafood 1 và 2), TCty Cà phê VN (Vinacafe), Tập đoàn Công nghiệp Cao su VN (VRG), TCty Giấy VN, Tập đoàn CN tàu thủy VN (Vinashin), TCty Hàng hải VN (Vinalines), Tập đoàn CN Than-Khoáng sản VN (Vinacomin), TCty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC)…Theo báo cáo nhanh từ các bộ ngành và địa phương, vẫn có hơn 50 DNNN chưa có quyết định chuyển đổi thành Cty TNHH một thành viên. Theo giải thích của bà Nguyễn Kim Toàn-Vụ trưởng Vụ đổi mới doanh nghiệp, VPCP, đây là những đơn vị thua lỗ nặng đang trong quá trình tái cơ cấu; các nông trường quốc doanh có quá trình đánh giá lại tài sản đất đai, cây trồng tương đối phức tạp (Tạp chí Kinh doanh 5/7), còn ô.Trần Hữu Huỳnh-trưởng ban Pháp chế VCCI lại lo ngại rằng các DN này không có luật điều chỉnh hoạt động: vi phạm luật vì không thực hiện nghĩa vụ bắt buộc do luật quy định. Luật Doanh nghiệp chỉ điều chỉnh các doanh nghiệp đã chuyển đổi. Cho nên, với những doanh nghiệp chưa chuyển đổi thì hiện nay không có luật để điều chỉnh về thành lập, tổ chức, hoạt động: “Rủi ro thứ nhất là bây giờ, chủ sở hữu căn cứ vào luật nào để điều chỉnh mối quan hệ với các DNNN. Rủi ro thứ hai là các DNNN chưa chuyển đổi, trong nội bộ cơ cấu quản lý điều hành của nó sẽ phải hoạt động theo luật nào?” (Tiền Phong 2/7)

Việc các DNNN chuyển đổi thành Cty TNHH một thành viên theo cách nước đến chân mới nhảy này khiến người ta lo ngại rằng sự chuyển đổi chỉ là bình mới rượu cũ: các DN chỉ thay tên đổi họ, mô hình Cty TNHH chỉ là bề ngoài, bản chất những DN này vẫn là DNNN với cơ chế, phương thức quản lý cũ. Người ta cũng lo ngại việc chuyển đổi này sẽ làm chậm lại tiến trình cổ phần hóa, mặc dù bà Nguyễn Kim Toàn khẳng định “ngoại trừ một số DN đặc thù, các DNNN thuộc diện cổ phần hóa, cho thuê, bán, khoán sau khi chuyển thành Cty TNHH một thành viên vẫn phải thực hiện cổ phần hóa”, nghĩa là việc chuyển đổi thành Cty TNHH một thành viên chỉ là bước quá độ, chứ không phải điểm dừng trong công cuộc tái cấu trúc nền kinh tế (Tạp chí Kinh doanh 5/7).

Một số TCty nhà nước thua lỗ nặng: Theo Kiểm toán Nhà nước, năm 2009, KTNN đã thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính (năm 2008) của 183/242 doanh nghiệp hạch toán độc lập thuộc 20 TCty nhà nước, kết quả kiểm toán cho thấy có một số TCty đang bị thua lỗ lớn. Ví dụ: TCty Cơ khí Xây dựng lỗ lũy kế đến 31-12-2008 là 39 tỷ đồng; Tổng công ty Công trình giao thông 6 lỗ gần 68 tỷ đồng, lỗ lũy kế 149 tỷ đồng. Tổng công ty Cà phê tuy báo cáo lãi 199 tỷ đồng nhưng lỗ lũy kế vẫn rất cao: 525 tỷ đồng.

Rất nhiều đơn vị, tổng công ty lớn để tồn tại các khoản nợ khó đòi cao như Tổng công ty Lương thực miền Nam có khoản nợ khó đòi 56 tỷ đồng; tổng công ty Xây dựng Hà Nội 51,2 tỷ đồng, công ty Thương mại và xuất khẩu Viettel thuộc tập đoàn Viettel (khi đó còn là tổng công ty) để nợ quá hạn 79 tỷ đồng…

Đáng chú ý, một số doanh nghiệp xây dựng thực hiện cơ chế khoán nhưng do thiếu kiểm tra, kiểm soát nội bộ nên nhiều khoản phải thu, tạm ứng không quyết toán để tồn những khoản nợ lớn, khó có khả năng thu hồi, tiềm ẩn gây lỗ lớn trong tương lai cho chính các doanh nghiệp này. Ví dụ như Tổng công ty Cơ khí Xây dựng có tổng nợ khó đòi lên tới 118,6 tỷ đồng trong đó có rất nhiều khoản tạm ứng vượt tỷ lệ khoán nội bộ cho nhiều cán bộ đã chuyển công tác, không còn khả năng thu hồi. Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 6 cũng để nợ khó đòi lên đến 46,4 tỷ đồng và đã buộc phải trích lập dự phòng gần 28 tỷ đồng…

Nhiều TCty Nhà nước sử dụng đất sai mục đích: Cty Cà phê đường 9 thuộc tổng công ty Cà phê đã bán đấu giá, chuyển nhượng 452 ngàn m2 đất; công ty Cổ phần xăng dầu chất đốt Hà Nội, thuộc tổng công ty Vận tải Hà Nội đem cho thuê 1.333 m2, công ty cổ phần Vận tải và dịch vụ hàng hoá cho thuê 972 m2… Nhiều tổng công ty quản lý đất yếu kém, để bị lấn chiếm lớn: tổng công ty Cà phê để bị lấn chiếm trên 9,5 triệu m2, tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 6 để bị lấn chiếm 16.683 m2. Nhiều tổng công ty khác, qua kiểm kê, diện tích đất được giao lớn hơn nhiều so với diện tích đất thực tế có nộp thuế.

Có 10 TCTNN đầu tư ra ngoài ngành: Tổng công ty Lương thực miền Nam đầu tư vào bảo hiểm 26,8 tỷ đồng, vào ngân hàng Vietcombank và một số đơn vị khác 95 tỷ đồng. Văn phòng tổng công ty Lâm nghiệp góp vốn 80 tỷ đồng vào công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt. Một doanh nghiệp (SASCO) thuộc tổng công ty Hàng không miền Nam đầu tư vào các tổ chức tín dụng 300 tỷ đồng. Tổng công ty Bến Thành đầu tư vào chứng khoán, ngân hàng trên 243 tỷ đồng…

Năm 2008, hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu của tổng công ty xây dựng công trình giao thông 6 là 30,53 lần; tổng công ty Xây dựng Công nghiệp Việt Nam là 16,47 lần, tổng công ty Xây dựng Hà Nội 14 lần, tổng công ty Cơ khí Xây dựng trên 7 lần…

Việc thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước (nộp thuế) ở khối TCTNN cũng là vấn đề đáng nói. Hầu hết các đơn vị được kiểm toán đều kê khai thiếu thuế và các khoản phải nộp về ngân sách nhà nước. Qua kiểm toán, kiểm toán Nhà nước đã kiến nghị tăng thu cho ngân sách 548 tỷ đồng (trong đó thuế thu nhập doanh nghiệp 346 tỷ đồng, thuế giá trị gia tăng 111,7 tỷ đồng…). (SGTT 12/7, Tuổi Trẻ 28/7)

Ra mắt TCty Tài nguyên và Môi trường: 7/7 TCty Tài nguyên và Môi trường VN đã làm lễ ra mắt. TMV thành lập trên cơ sở tổ chức lại các doanh nghiệp thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con, với nòng cốt là những doanh nghiệp nhà nước đã có quá trình hình thành và phát triển lâu dài. TMV có vốn điều lệ 500 tỉ đồng, sản phẩm chính là các loại bản đồ địa hình, địa chính, địa chất và quy hoạch; các ảnh hàng không, ảnh viễn thám; các thiết bị phụ trợ cho công nghệ môi trường để xử lý nước thải, rác thải. Ngoài ra, TMV thực hiện các dịch vụ như xây lắp và triển khai các dự án công nghệ, dự án chuyên ngành; tư vấn và chuyển giao công nghệ; cung cấp trang thiết bị công nghệ; tư vấn đầu tư; xử lý và cung cấp dữ liệu tài nguyên môi trường, các dịch vụ giá trị gia tăng. (Tuổi Trẻ 7/7)

Bài

P/v chuyên gia KT Phạm Chi Lan (ảnh): Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước: Tên mới, ưu đãi cũ

Lưu Hương thực hiện-Nhịp cầu Đầu tư 5/7

* Khi doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, những ưu đãi nào còn được giữ lại?

Trên thực tế, khi chuyển đổi, chưa có ưu đãi nào bị cắt cả. Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước vẫn được sở hữu rất nhiều đất đai. Ngay cả những doanh nghiệp nhà nước nhỏ. Chẳng hạn, Hapro chiếm gần hết những vị trí tốt ở Hà Nội với giá rất ưu đãi, trong khi ai cũng biết ở Hà Nội là “tấc đất tấc vàng”. Cho dù các doanh nghiệp này có sử dụng sai mục đích, nhưng cũng không ai lấy lại được.

Nhờ vào nguồn tín dụng trong nước, tín dụng nước ngoài, hay được bổ sung vốn bằng những cách khác nhau, các doanh nghiệp nhà nước nắm giữ số vốn cực kỳ lớn, nhưng đồng thời, nợ của họ cũng không nhỏ. Vì vậy, đối với những bảo lãnh vay nợ trước đây, Nhà nước vẫn phải gánh chịu, một khi các doanh nghiệp này không trả được nợ.

Quyền kinh doanh là ưu đãi lớn nhất không quy ra bằng tiền của doanh nghiệp nhà nước. Trong những lĩnh vực mà họ có mặt, các đối thủ khác không thể chen chân vào. Nhà nước vẫn hay nói rằng doanh nghiệp nhà nước cần đảm trách những lĩnh vực mà khu vực tư nhân chưa sẵn sàng tham gia, hoặc không muốn tham gia. Thực ra, doanh nghiệp tư nhân rất muốn nhảy vào, nhưng với sự có mặt của các doanh nghiệp nhà nước cùng với vô vàn ưu đãi, họ khó mà cạnh tranh nổi.

Điện là một ví dụ điển hình. Việt Nam kêu gọi các doanh nghiệp bên ngoài đầu tư vào lĩnh vực sản xuất điện. Tuy nhiên, ngay đến PetroVietnam là tập đoàn nhà nước với đầy đủ sự ưu ái mà nhảy vào lĩnh vực này còn gặp khó khăn với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), huống hồ gì các doanh nghiệp khác. Wartsila (Phần Lan) là doanh nghiệp đầu tiên định đứng ra làm nhà máy điện, nhưng không thương lượng được với EVN về giá nên đành phải rút lui, sau 9 năm theo đuổi.

Khủng hoảng sẽ kéo chỉ số chứng khoán xuống và như vậy cổ phần hóa sẽ khiến cho tài sản nhà nước bị mất đi. Bà nghĩ gì về điều này?

Đúng là có điều đó. Đầu năm 2007, khi giá chứng khoán lên cơn sốt, nhiều doanh nghiệp nhà nước muốn cổ phần hóa và lên sàn. Tuy nhiên, họ đã trở tay không kịp, bởi giá chứng khoán lên rất nhanh mà xuống cũng rất nhanh. Trong các trường hợp cổ phần hóa, tôi tiếc nhất là Vietcombank. Ngân hàng này đã chuẩn bị kế hoạch cổ phần hóa từ 2 năm trước đó. Nhưng lúc Vietcombank sắp triển khai thì thời cơ đã qua đi (giá chứng khoán rớt xuống).

Các nhà đầu tư chiến lược cũng rất háo hức, bởi họ đánh giá cao Vietcombank về nhiều mặt. Nhưng họ đã cảm thấy bị tổn thương, khi Ngân hàng buộc phải lấy giá IPO (chào bán lần đầu ra công chúng) làm cơ sở tham khảo để ra giá với các đối tác chiến lược. Và khi chứng kiến sự can thiệp mạnh mẽ của Nhà nước đối với Vietcombank, các đối tác chiến lược lo ngại điều này sẽ còn tiếp tục. Bởi lẽ, Vietcombank, tuy là ngân hàng cổ phần, nhưng phần vốn nhà nước vẫn chiếm đa số.

Một số ý kiến cho rằng, sự tham gia của những doanh nghiệp lớn sẽ tạo sự sôi động cho thị trường chứng khoán và kéo giá chứng khoán lên. Bà nghĩ sao về vấn đề này?

Các nhà đầu tư đã kỳ vọng như thế khi có tin Vietcombank lên sàn và hàng loạt ngân hàng cổ phần có sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Sau Vinamilk, người ta tin rằng Việt Nam đã sẵn sàng nhân rộng mô hình. Thị trường có lên có xuống, nhưng sự thất bại của Vietcombank trong việc cổ phần hóa đã tạo ấn tượng khá xấu trong mắt nhà đầu tư nước ngoài, làm họ mất niềm tin, vì sự do dự khi ra quyết định và sự can thiệp quá sâu của Nhà nước.

Thủ tướng chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2010 sẽ cổ phần hóa khoảng 500 doanh nghiệp lớn, nhất là các công ty mẹ của tập đoàn nhà nước. Nhưng thực tế, trong 3 năm qua, chỉ tiến hành cổ phần hóa hơn 200 doanh nghiệp, hầu hết là các đơn vị độc lập nhỏ, hoặc là thành viên của tập đoàn, chứ còn các tổng công ty lớn của nhà nước vẫn chưa hề được đụng đến. Đến nay, số doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa chỉ chiếm khoảng 20% vốn nhà nước trong doanh nghiệp nhà nước nói chung. Tức là 80% vốn nhà nước vẫn còn đọng ở 1.500 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên còn lại.

Lý do thực sự của việc chậm trễ trong cổ phần hóa là gì?

Thứ nhất, chủ trương của Nhà nước cũng không triệt để. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, sau 4 năm khi luật này có giá trị thi hành (từ ngày 1.7.2006), tất cả các doanh nghiệp nhà nước phải chuyển sang hoạt động theo luật này và Luật Doanh nghiệp nhà nước không còn giá trị nữa. Tức là đến ngày 1.7.2010 sẽ không còn các doanh nghiệp nhà nước theo kiểu cũ nữa mà phần lớn sẽ được cổ phần hóa. Và Nhà nước chỉ giữ 100% vốn ở một số doanh nghiệp dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên với con số vài trăm chứ không phải hàng ngàn như hiện nay. Những doanh nghiệp đó thuộc những ngành thiết yếu như công nghiệp nặng, hoặc hạ tầng lớn.

Nhưng khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, lại xuất hiện một suy nghĩ khác. Người ta cho rằng trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh, rất cần những doanh nghiệp nhà nước mạnh để đóng vai trò là “quả đấm thép”. Và ý tưởng cổ phần hóa để tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước bằng sự tham gia của xã hội đã được thay bằng ý tưởng dồn hết nguồn lực của Nhà nước vào việc xây dựng những tập đoàn mạnh để làm đối trọng với các đối tác bên ngoài. Các doanh nghiệp lớn bắt ngay được tín hiệu rằng họ đang ở trong diện được củng cố và tăng cường chứ không phải diện bị cổ phần hóa. Và như vậy, tội gì mà họ phải vội vàng.

Còn đối với những cơ quan quản lý ngành, nếu cứ hăng hái thúc đẩy cổ phần hóa có khi bị quy kết là đi ngược lại chủ trương thành lập tập đoàn. Vậy tội gì “cầm đèn chạy trước ôtô”, vừa giữ được an toàn chính trị, vừa được hưởng lợi từ những doanh nghiệp nhà nước mà họ quản lý (vì khi hoàn tất cổ phần hóa, phần vốn nhà nước sẽ chuyển qua cho Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước quản lý).

http://www.nhipcaudautu.vn/article.aspx?id=5177

P/v bà Phạm Chi Lan: Tổng kết mô hình tập đoàn để chấn chỉnh (trích)

Cầm Văn Kình thực hiện-Tuổi Trẻ 12/7

* Hiện nay việc quản lý, giám sát tập đoàn được giao cho các bộ, ngành. Vấn đề là các bộ ngành có giám sát được không, thưa bà?

- Chúng ta đã tạo cho các tập đoàn một vị thế rất cao, dễ dàng thoát khỏi tầm quản lý của các bộ, ngành. Chủ tịch, tổng giám đốc tập đoàn do Thủ tướng bổ nhiệm, họ coi mình có quyền báo cáo, xin ý kiến trực tiếp từ người đứng đầu Chính phủ, nên tiếng nói của bộ trưởng đối với họ chỉ có mức độ. Có một số vấn đề các bộ còn lấn cấn, họ báo cáo thẳng Thủ tướng, Thủ tướng quyết, nên lần sau các bộ ngành cũng ngán.

Theo pháp luật, ai ra quyết định thành lập doanh nghiệp sẽ phải chịu trách nhiệm về doanh nghiệp đó. Nhưng thực tế, Thủ tướng lại phân cấp cho các bộ thay mặt mình quản lý. Chúng ta lại gần như chưa có những quy định cụ thể nào về trách nhiệm của các bộ đối với các tập đoàn, tối thiểu như để cho tập đoàn thua lỗ nặng thì bộ trưởng phải chịu trách nhiệm, đền bù thế nào cũng chưa có… Phải nói rõ trách nhiệm và cả quyền của các bộ thì mới giám sát, quản lý được các tập đoàn. Các tập đoàn nắm giữ tới 60-70% vốn và tài sản của cả nền kinh tế mà chúng ta quản lý như vậy thật sự không ổn. Lần này chỉ Vinashin kiểm điểm nội bộ thì hoàn toàn không đủ để rút ra vấn đề vì Vinashin hoạt động dựa trên sự chỉ đạo, quản lý, hỗ trợ của nhiều cơ quan nhà nước.

* Quản lý lỏng nhưng vấn đề nữa là các tập đoàn đã được “nuông chiều” quá nhiều?

- Cái đáng báo động ở đây theo tôi đúng là đã quá “nuông chiều” tập đoàn. Theo tôi, để Vinashin có thể chi tiêu vung vãi, nợ nần lớn đến vậy một phần không nhỏ vì Nhà nước đã cho họ những nguồn lực to lớn một cách quá dễ dàng. Tư nhân nợ quá hai lần vốn đã bị ngân hàng “tuýt còi” rồi, các tập đoàn nợ gấp mấy lần vốn cũng không sao. Nhà nước dễ dãi trong bảo lãnh, ngân hàng dễ dãi trong cho vay, có chuyện gì thì Nhà nước lại khoanh nợ, giãn nợ, thậm chí xóa nợ. Nếu sòng phẳng, vay mượn theo tiêu chí thị trường khó có chuyện nợ nần lớn đến vậy. Cách phân bổ nguồn lực của Nhà nước rất cần được xem lại. Tôi nghĩ nếu không cho các tập đoàn dễ dãi thì mất mát không lớn đến thế.

* Vậy cơ chế giám sát, quản lý tập đoàn, theo bà, phải thay đổi thế nào?

- Cần có khuôn khổ pháp lý đầy đủ về tập đoàn, cần rà soát, tổng kết mô hình tập đoàn để chấn chỉnh trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc thị trường. Nên hình thành cơ quan giám sát chuyên trách, đủ quyền năng để giảm tải cho Thủ tướng và các bộ trưởng.

* Các tập đoàn cũng cần công khai, minh bạch như các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán?

- Các tập đoàn cần minh bạch, công khai hơn cả các công ty niêm yết vì đó là tài sản của toàn dân chứ không chỉ vài ngàn nhà đầu tư. Nhân dân – người chủ của khối tài sản này – phải có quyền được biết khối tài sản của họ đang được sử dụng ra sao.

http://tuoitre.vn/Kinh-te/389668/Tong-ket-mo-hinh-tap-doan-de-chan-chinh.html

TS Nguyễn Đức Thành: Suy nghĩ về sự phát triển dựa trên các tập đoàn

Tuổi Trẻ 19/7

TTCT – Những sự kiện gần đây liên quan quá trình tái cấu trúc của một số tập đoàn kinh tế đã đặt ra một loạt câu hỏi về trách nhiệm quản trị, tầm nhìn chính sách và rộng hơn là tính bền vững của mô hình kinh tế tập đoàn hiện nay ở nước ta.

Vinashin chỉ là trường hợp điển hình của một tập đoàn không may mắn. Nếu không có cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế toàn cầu, những ưu ái Vinashin được hưởng có thể khiến tập đoàn này vẫn cân đối được khoản thu để bù đắp khoản chi.

Nhưng hiệu quả kinh tế thật sự không chỉ đo lường ở mức độ không bị vỡ nợ mà cần phải so sánh trong khả năng khác, khi những khoản vốn khổng lồ được dùng trong một trường hợp khác và mang lại lợi nhuận lớn hơn. Trên thực tế, đa số các tập đoàn không bị đẩy tới tình trạng của Vinashin, vì thế chúng ta thật sự không có nhiều cơ hội để đặt một câu hỏi rộng lớn hơn nhiều, liên quan đến hiệu quả thật sự của tất cả các tập đoàn kinh tế hiện nay.

Vào lúc này, có rất nhiều lý luận để biện minh sự tồn tại của các tập đoàn lớn của Việt Nam, nhất là khi Việt Nam cảm thấy nhu cầu tăng cao sức cạnh tranh quốc tế. Về bản chất, như có thể thấy rõ trong trường hợp Vinashin, mô hình tập đoàn lớn hiện nay có ý nghĩa như là phương tiện tích tụ tư bản một cách nhân tạo, thông qua sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước nhằm tạo ra bước nhảy vọt không thông qua quá trình tích lũy tự nhiên như trong khu vực tư nhân.

Tuy nhiên do bị tích lũy một cách nhân tạo, cấu trúc của hệ thống cũng mang tính nhân tạo, gượng ép nên thường không đạt được sự đồng bộ, nhuần nhuyễn mà một tổ chức hữu cơ cần có. Sự thiếu đồng bộ này thể hiện qua năng lực quản lý, khả năng ra quyết định (năng lực đầu tư), mức độ kiểm soát… Thiếu những năng lực này, doanh nghiệp thường khó đối phó được trước những rủi ro của thị trường, đặc biệt thị trường toàn cầu.

Có thể nói đây là mâu thuẫn căn bản của mô hình: các tập đoàn cần có quy mô lớn để đủ điều kiện tham gia thị trường toàn cầu nhưng lại không hội đủ sự nhạy bén, tinh khôn, linh hoạt và thực tế để ứng phó với những rủi ro toàn cầu. Lịch sử thế giới cho thấy đa số doanh nghiệp toàn cầu đều trải qua một quá trình trưởng thành tự nhiên và lâu dài, trên cơ sở đó tạo được những cơ chế tự duy trì, tự tái tạo liên tục và bền vững.

Trong một số nước phát triển sau, như trường hợp của Đức và Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, một số doanh nghiệp lớn được hình thành nhờ sự hỗ trợ của nhà nước đã trưởng thành nhanh chóng nhờ những điều kiện quốc tế đặc biệt (như chiến tranh), nhưng sau đó đều phải có sự chuyển đổi và cải cách theo hướng tư nhân hóa để nhà nước có thể rút khỏi hoạt động trực tiếp tại doanh nghiệp.

Chừng nào còn sự hiện diện của nhà nước trong các doanh nghiệp này thì những mâu thuẫn lớn như sự tách bạch giữa quyền đại diện sở hữu và quyền điều hành, giữa nhu cầu và khả năng giám sát đều dẫn tới những lỗ hổng đẩy cá nhân chạy theo các hoạt động trục lợi ngắn hạn, làm suy giảm hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năng ứng phó của doanh nghiệp.

NGUYỄN ĐỨC THÀNH

(giám đốc Trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách ĐH Kinh tế – ĐH Quốc gia Hà Nội)

Luật gia Vũ Xuân Tiến- Chủ tịch Hội đồng thành viên Cty TNHH Tư vấn VFAM Việt Nam: Còn nguyên vẹn “những nút thắt”!

TBKTSG 28/7

Sự kiện hàng ngàn doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được cấp tốc chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên theo Nghị định số 25/2010/NĐ-CP (NĐ25) đã và đang… chìm dần với thông tin: về cơ bản đã về đích đúng hạn. Song, các DNNN sau khi chuyển đổi sẽ như thế nào? Mạnh hơn, giẫm chân tại chỗ hay yếu đi? Đó là những câu hỏi không thể bỏ qua.

Nhìn vào thực tế có thể thấy, việc các DNNN chuyển thành công ty TNHH một thành viên theo NĐ25 vừa qua, thực chất chỉ là tạo ra những chiếc “bình mới” cho một “chất rượu” cũ mà thôi.

Các DNNN sau khi chuyển đổi sẽ chưa (hoặc không) có sự thay đổi đáng kể nào về quản trị doanh nghiệp – khâu quyết định đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Nhận định trên là dựa vào chính những quy định trong NĐ25.

Các công ty TNHH một thành viên ra đời từ NĐ25 phải được gọi đúng tên là công ty TNHH nhà nước một thành viên. Bởi lẽ, Nhà nước vẫn là chủ sở hữu 100% vốn điều lệ của những công ty đó.

Cụm từ “Nhà nước một thành viên” đã được sử dụng để đặt tên cho một số DNNN trước đây. Song, trong lần chuyển đổi này, cụm từ trên đã không được sử dụng để tránh vi phạm nguyên tắc “thương mại không phân biệt đối xử” – một trong những nguyên tắc cơ bản của WTO mà Việt Nam là thành viên. Vì “Nhà nước vẫn là chủ sở hữu 100% vốn điều lệ” cho nên các “nút thắt” trong công tác quản trị các DNNN vẫn còn nguyên vẹn đối với các công ty TNHH một thành viên hình thành sau chuyển đổi.

Các “nút thắt” đó chính là những câu hỏi đang rất cần được giải đáp một cách thỏa đáng.

Ai là chủ sở hữu của công ty?

Điều 3 NĐ25 quy định: “Nhà nước là chủ sở hữu đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do mình nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ. Chính phủ thống nhất tổ chức thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ”. Song, nhà nước luôn luôn là một danh từ chung, không chỉ cụ thể là ai. Vì vậy, trong trường hợp này, chủ sở hữu vẫn không được xác định.

NĐ25 có chỉ rõ hơn: “Mỗi công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được chuyển đổi từ công ty nhà nước hoặc thành lập mới chỉ do một tổ chức được phân công, phân cấp dưới đây thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu (sau đây gọi tắt là chủ sở hữu)…”.

Và các tổ chức đó là: Thủ tướng Chính phủ hoặc một tổ chức được Chính phủ phân công; bộ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là ủy ban nhân dân cấp tỉnh); công ty mẹ trong mô hình công ty mẹ – công ty con, công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước và Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) trong một số trường hợp. Rõ ràng, việc xác định “chủ sở hữu của công ty” vẫn như trước đây, tức là, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước lại là “chủ sở hữu” của các đơn vị kinh doanh!

Chủ sở hữu là con người cụ thể nào?

Chủ sở hữu một công ty không thể là một cơ quan, tổ chức mà phải là một con người cụ thể. Quy định tại NĐ25 cho thấy tùy theo từng công ty, chủ sở hữu sẽ là Thủ tướng Chính phủ; bộ trưởng; chủ tịch UBND cấp tỉnh; người được công ty mẹ hoặc SCIC giao quyền.

Câu hỏi được đặt ra là, liệu các quan chức trong bộ máy công quyền (Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh) có đủ điều kiện (ít nhất là về thời gian) để thực hiện các quyền của chủ sở hữu hay không? Câu trả lời là không!

Chẳng hạn, một vị chủ tịch UBND cấp tỉnh với hàng trăm cuộc họp mỗi tháng và phải chịu trách nhiệm đối với mọi hoạt động trên địa bàn tỉnh thì lấy đâu ra thời gian để “thực hiện quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu công ty”?

Hơn nữa, quản lý một công ty kinh doanh liên quan đến rất nhiều vấn đề từ kinh tế, kỹ thuật đến lao động, đất đai, pháp luật và tập quán quốc tế… Do đó, không phải cứ xin ý kiến là chủ sở hữu có thể “cho ý kiến” được ngay. Tất yếu phải có các cơ quan tham mưu, nghiên cứu và trình lên ý kiến giải quyết. Và không loại trừ trường hợp khi ý kiến chấp thuận được thông báo thì thời cơ kinh doanh đã… mất!

Với những “chủ sở hữu” không phải là quan chức mà là đại diện của công ty mẹ hoặc SCIC thì câu hỏi đặt ra lại là họ có dám “cho ý kiến” không? Vốn của công ty là vốn nhà nước. Do dó, nếu “cho ý kiến” kịp thời nhưng gặp rủi ro, kinh doanh thua lỗ, liệu họ có tránh khỏi tội “cố ý làm trái, gây hậu quả nghiêm trọng”? Vì vậy, để chắc chắn, đến lượt mình, họ lại đi “xin ý kiến” cấp trên trước khi “cho ý kiến” với người “xin ý kiến”! Những quy trình “xin” và “cho” ý kiến nêu trên là xa lạ đối với hoạt động kinh doanh trong kinh tế thị trường!

Ai sẽ chịu trách nhiệm khi công ty mất vốn?

Theo NĐ25, tham gia quản lý điều hành công ty TNHH một thành viên có: chủ sở hữu, hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty trong mô hình không có hội đồng thành viên. Câu hỏi được đặt ra là nếu do quản lý yếu kém, công ty bị mất vốn thì ai chịu trách nhiệm và chịu trách nhiệm như thế nào?

Theo Luật Doanh nghiệp, chủ sở hữu sẽ là người chịu trách nhiệm toàn diện và cao nhất là mất hết số vốn đầu tư của mình. Song, trong công ty TNHH nhà nước một thành viên, vốn của công ty là vốn của Nhà nước – là tiền đóng thuế của nhân dân. Số vốn đó không thuộc sở hữu của một cá nhân nào. Do đó, những “chủ sở hữu” của công ty chẳng có gì để mất. Khi công ty thua lỗ và mất vốn, cao lắm, các “chủ sở hữu” được yêu cầu “kiểm điểm, rút kinh nghiệm” hoặc kỷ luật hành chính.

Hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty cũng sẽ vô can. Bởi lẽ, trước khi thực hiện những việc quan trọng, họ đã “xin” ý kiến chủ sở hữu và được chấp thuận. Việc không thành công là do khách quan, do năng lực có hạn và hàng ngàn lý do khác đầy sức thuyết phục! Hơn nữa, họ cũng chỉ là người được chủ sở hữu “thuê quản lý” không có hợp đồng. Căn cứ pháp lý nào để quy trách nhiệm cho họ phải bồi thường thiệt hại cho công ty?

Như vậy, có thể thấy, khi còn là DNNN, doanh nghiệp mất vốn, phá sản đã không có ai chịu trách nhiệm, vậy mà khi chuyển sang công ty TNHH nhà nước một thành viên cũng sẽ không có ai chịu trách nhiệm chuyện công ty bị mất vốn. Chỉ có nhân dân – những người đóng thuế – là bị mất mà không biết kêu ai?

Cần làm gì?

Có thể khẳng định rằng, khi còn duy trì nguyên tắc “Nhà nước làm chủ sở hữu” của công ty thì không có câu trả lời triệt để cho những câu hỏi đã nêu. Bởi lẽ, vốn nói chung, hay vốn trong kinh doanh của mọi doanh nghiệp chỉ được bảo toàn và sử dụng có hiệu quả khi có một chủ sở hữu đích thực. Vì vậy, xin kiến nghị vài giải pháp trong tương lai:

1. Nhanh chóng thực hiện cổ phần hóa, bán, khoán, cho thuê những công ty TNHH nhà nước một thành viên sau chuyển đổi. Chuyển đổi hình thức sở hữu DNNN nhằm thu hút vốn đầu tư trong nhân dân, nâng cao năng lực quản trị và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp là mục tiêu đã được đặt ra từ lâu của Đảng và Nhà nước ta. Nhà nước đã nêu rõ chỉ giữ và góp vốn chi phối trong khoảng 400 doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực có liên quan đến an ninh quốc phòng và lợi ích công cộng. Vì vậy, không có một lý do gì để trì hoãn quá trình này.

2. Để quản lý phần vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân trong những trường hợp cần thiết, cần mạnh dạn bỏ cơ chế chủ quản như hiện nay. Không thể và không nên giao cho một quan chức, công chức trong bộ máy công quyền làm “chủ sở hữu” hoặc “đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp”.

3. Nghiên cứu, xây dựng và ban hành Luật Quản lý vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp, luật về thuê quản lý doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, tổ chức lại SCIC thành một doanh nghiệp có chức năng nhận ủy thác đầu tư của Nhà nước để đầu tư vào các doanh nghiệp khác. Đồng thời, cho phép các doanh nghiệp khác trong cả nước được phép nhận ủy thác đầu tư vốn của Nhà nước để đầu tư vào các doanh nghiệp, công trình, dự án nếu đủ những điều kiện theo quy định của pháp luật.

4. Với những doanh nghiệp do quản lý, điều hành yếu kém, dẫn đến bờ vực phá sản cần xử lý nghiêm khắc.

http://www.thesaigontimes.vn/Home/doanhnghiep/phapluat/37971/

Posted in Uncategorized | Để lại phản hồi

NỢ CÔNG 7/2010

Nghi dinh 78-79-No cong

Fitch hạ bậc xếp hạng tín nhiệm của VN: 29/7, tổ chức định giá tín nhiệm quốc tế Fitch đã hạ bậc xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam. Cụ thể: định mức tín nhiệm đối với các khoản vay dài hạn bằng nội tệ, ngoại tệ và đối với trái phiếu ngoại tệ của Việt Nam đều bị hạ một bậc tín nhiệm từ BB- xuống B+. Đây là lần hạ bậc thứ 2 của tổ chức này đối với Việt Nam sau lần trước thực hiện vào tháng 7/2009. Chuyên gia của Fitch, bà Ai Ling Ngiam nói với Reuters rằng chính sách kinh tế thắt chặt hay nới lỏng của Việt Nam là không thể dự đoán, mang tính đối phó và nhiều mâu thuẫn. Bên cạnh đó, dự trữ ngoại hối thấp và hệ thống ngân hàng yếu kém là những lý do khiến Việt Nam bị hạ bậc tín nhiệm lần này. Việc hạ bậc lần này đã khiến Việt Nam xếp sau Indonesia ba bậc và hai bậc sau Philippines theo đánh giá của Fitch. (TBKTSG 29/7)

EU giải ngân 13 triệu euro hỗ trợ VN :16/7, thông cáo báo chí của phái đoàn EU tại VN cho biết phái đoàn EU đã quyết định giải ngân 13 triệu euro (tương đương 16,5 triệu USD) để hỗ trợ việc thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH của Việt Nam (SEDP 2006 – 2010). Khoản giải ngân này nằm trong thỏa thuận viện trợ không hoàn lại trị giá 44 triệu euro do EU và Chính phủ VN ký kết vào năm 2009. Theo thỏa thuận này, các nguồn tài chính sẽ được phân bổ cho Việt Nam trong vòng 3 năm thông qua cơ chế tín dụng hỗ trợ giảm nghèo (PRSC) đồng tài trợ. (Tuổi Trẻ 16/7)

Bộ Tài chính vừa công bố bản tin số 5 về nợ nước ngoài của VN  tính đến cuối 2009: Theo đó, tính đến 31/12/2009, tổng dư nợ nước ngoài quốc gia (bao gồm nợ nước ngoài Chính phủ và nợ nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh) là 27,929 tỷ USD, áp dụng tỷ giá quy đổi tại thời điểm cuối kỳ-1 con số được lãnh đạo Bộ Tài chính cho là, chứng tỏ nợ nước ngoài quốc gia vẫn trong giới hạn an toàn. Cụ thể, nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP bằng 39%, thuộc diện quốc gia có nợ nước ngoài vừa phải, nếu xét theo khuyến nghị của WB (trên 50% được cho là nợ quá nhiều); nghĩa vụ trả nợ nước ngoài TDH so với xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ chỉ bằng 4,2% (WB cho phép đến 25%); dự trữ ngoại hối so với nợ nước ngoài ngắn hạn là 290% (khuyến nghị của WB là trên 200%); nghĩa vụ trả nợ Chính phủ so với tổng thu ngân sách nhà nước 5,1% (ngưỡng an toàn của WB là dưới 35%)…

Cũng theo bản tin số 5, các khoản vay nước ngoài của VN đa số đều có lãi suất thấp, trong đó vay ODA chiếm tỷ trọng 74,67%; vay ưu đãi chiếm 5,41%; vay thương mại 19,92%. Không kể nợ được Chính phủ bảo lãnh, trong tổng số dư nợ nước ngoài Chính phủ gần 23,943 tỷ USD, có đến 19,325 tỷ USD lãi suất từ 1-2,99%; trên 1,5 tỷ USD lãi suất từ 3-5,99%; 281,7 triệu USD lãi suất 0-99% và 919 triệu USD ở mức lãi suất 6-10%. Ngoài ra, hơn 1,9 tỷ USD dư nợ còn lại được áp lãi suất thả nổi theo lãi suất liên ngân hàng của thị trường London (LIBOR).

Cơ cấu đồng tiền vay trong tổng dư nợ nước ngoài Chính phủ cũng khá đa dạng, được cho là có thể hạn chế rủi ro về tỷ giá, giảm áp lực lên nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của Chính phủ. Cụ thể, lớn nhất là các khoản vay bằng đồng Yên, chiếm 41,96%; SDR (quyền rút vốn đặc biệt – đơn vị tiền tệ quy ước của một số nước thành viên Quỹ Tiền tệ Quốc tế) chiếm 27,39%; vay theo đồng USD chiếm 16,61%; vay bằng đồng Euro chiếm 10,68%; còn lại là các đồng tiền khác chiếm 3,37% tổng dư nợ nước ngoài Chính phủ (TBKTVN 23/7).

Ban hành quy định cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ: 14/7 CP ban hành Nghị định 78/2010/NĐ-CP quy định về điều kiện, quy trình, thủ tục và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ. Về lãi suất cho vay lại: đối với cho vay lại vốn vay ODA, lãi suất cho vay lại bằng ngoại tệ gốc vay nước ngoài được tính bằng 2/3 lãi suất thương mại tham chiếu (CIRR) tương ứng với thời hạn cho vay lại tại thời điểm xác định điều kiện cho vay lại. Trường hợp mức 2/3 lãi suất thương mại tham chiếu nêu trên thấp hơn lãi suất vay nước ngoài thì lãi suất cho vay lại bằng lãi suất vay nước ngoài. Tương tự, trường hợp cho vay lại bằng ngoại tệ không có lãi suất thương mại tham chiếu, lãi suất cho vay lại cũng bằng lãi suất vay nước ngoài. Cũng trong hoạt động cho vay lại nguồn vốn ODA, nếu cho vay lại bằng VND thì lãi suất cho vay lại được xác định bằng lãi suất cho vay ngoại tệ quy định ở trên cộng với tỷ lệ rủi ro tỷ giá giữa ngoại tệ và VND. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tính toán và công bố mức rủi ro tỷ giá giữa VND và 3 loại ngoại tệ chính là đồng USD, Euro và Yên. Một số ngành, lĩnh vực được hưởng LS ưu đãi theo mức bằng 30% mức lãi suất cho vay lại bằng ngoại tệ hoặc VND tương ứng, nhưng không thấp hơn lãi suất vay nước ngoài. Danh mục ngành, lĩnh vực được hưởng mức lãi suất ưu đãi này do Thủ tướng Chính phủ quy định.Trường hợp cho UBND cấp tỉnh vay lại, lãi suất cho vay lại bằng lãi suất vay nước ngoài. Về phí, người vay lại phải trả 3 loại phí:

Phí cho vay lại, đối với trường hợp cho vay lại vốn vay ODA, mức phí cho vay lại bằng 0,2%/năm tính trên dư nợ gốc. Trường hợp cho vay lại vốn vay thương mại, vay ưu đãi, mức phí cho vay lại bằng 0,25%/năm tính trên dư nợ gốc. Không áp dụng phí cho vay lại trong trường hợp UBND cấp tỉnh vay lại.

Phí và chi phí liên quan do bên cho vay nước ngoài thu, bao gồm phí quản lý, phí cam kết, phí rút vốn, phí bảo hiểm, các khoản phí và chi phí khác.

Các loại phí dịch vụ do ngân hàng phục vụ thu, người vay lại trả trực tiếp cho ngân hàng phục vụ theo quy định của ngân hàng.(xem chi tiết nội dung Nghị định trong file đính kèm)

Ban hành Nghị định về nghiệp vụ quản lý nợ công: Cùng ngày 14/7 CP ban hành Nghị định 79 về nghiệp vụ quản lý nợ công. Theo đó, Chính phủ thống nhất quản lý toàn diện nợ công thông qua các công cụ:  Chiến lược dài hạn về nợ công; Chương trình quản lý nợ trung hạn;  Kế hoạch vay và trả nợ chi tiết hàng năm của Chính phủ; và Các chỉ tiêu an toàn và giám sát nợ công. Trong đó, hệ thống các chỉ tiêu giám sát nợ công gồm có: Nợ công so với GDP; Nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP; Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu; Nợ chính phủ so với GDP; Nợ chính phủ so với thu ngân sách nhà nước; Nghĩa vụ nợ chính phủ so với thu ngân sách nhà nước; Nghĩa vụ nợ dự phòng so với thu ngân sách nhà nước; và Hạn mức vay thương mại nước ngoài và bảo lãnh vay nước ngoài của Chính phủ.

Cơ chế tài chính sử dụng vốn vay nước ngoài của Chính phủ được quy định ở điều 13. Cụ thể:

1. Đối với vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi gắn với chương trình, dự án:

a) Áp dụng cơ chế cấp phát vốn ngân sách nhà nước cho các chương trình, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội và các dự án thuộc lĩnh vực khác không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và là đối tượng chi của ngân sách nhà nước, bao gồm cả trường hợp ngân sách địa phương được vay lại vốn vay nước ngoài từ ngân sách trung ương để cấp phát cho chương trình, dự án;

b) Áp dụng cơ chế cho vay lại toàn bộ hoặc cho vay lại một phần và cấp phát một phần từ ngân sách nhà nước cho các chương trình, dự án đầu tư phát triển có khả năng thu hồi vốn toàn bộ hoặc một phần, tùy theo khả năng hoàn vốn.

2. Đối với vốn vay thương mại nước ngoài của Chính phủ:

a) Áp dụng cơ chế cho vay lại đối với chương trình, dự án đầu tư phát triển trọng điểm của Nhà nước có nhu cầu nhập khẩu thiết bị, công nghệ, có khả năng hoàn vốn trực tiếp và trả được nợ vay;

b) Sử dụng cho mục đích cơ cấu lại khoản nợ, danh mục nợ nước ngoài của Chính phủ theo kế hoạch vay, trả nợ chi tiết hàng năm của Chính phủ hoặc theo đề án cơ cấu lại nợ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

3. Căn cứ vào kết quả thẩm định dự án đầu tư của các cơ quan có thẩm quyền, kết quả thẩm định của các cơ quan cho vay lại, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư xác định cơ chế tài chính áp dụng cho chương trình, dự án trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.

4. Đối với khoản vay bằng ngoại tệ hoặc vay bằng hàng hóa không trực tiếp gắn với chương trình, dự án:

a) Vay nước ngoài bằng ngoại tệ:

- Các khoản vay hỗ trợ ngân sách, vay hỗ trợ cán cân thanh toán quốc tế (thuộc phạm vi nợ Chính phủ) được cân đối vào ngân sách nhà nước theo dự toán ngân sách nhà nước được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

- Việc sử dụng ngoại tệ vay nước ngoài được thực hiện theo quyết định cụ thể của Thủ tướng Chính phủ và phù hợp với các cam kết trong các thỏa thuận vay.

b) Vay nước ngoài bằng hàng hóa:

- Trường hợp thỏa thuận vay có xác định đối tượng trong nước sử dụng hàng hóa bằng hiện vật: Bộ Tài chính quy đổi giá trị khoản vay ra đồng Việt Nam để cân đối vào ngân sách nhà nước và thực hiện cấp phát hoặc cho vay lại đối với đối tượng sử dụng hàng hóa. Tỷ giá quy đổi ngoại tệ áp dụng tỷ giá hạch toán do Bộ Tài chính công bố vào thời điểm quy đổi;

- Trường hợp thỏa thuận vay có xác định đối tượng trong nước sử dụng tiền thu được từ bán hàng: Bộ Tài chính chủ trì tổ chức việc nhập hàng, bán đấu giá và nộp tiền vào ngân sách nhà nước để sử dụng theo quy định của thỏa thuận vay và theo cơ chế tài chính được Thủ tướng Chính phủ quyết định;

- Trường hợp thỏa thuận vay không xác định đối tượng sử dụng tiền thu được từ bán hàng: Bộ Tài chính chủ trì tổ chức việc nhập hàng, bán đấu giá và nộp tiền vào ngân sách nhà nước để sử dụng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Nghị định cũng quy định về việc công khai thông tin nợ công thông qua hình thức Bản tin về nợ công do Bộ Tài chính phát hành 6 tháng 1 lần.

Chi tiết nội dung Nghị định 79 xem file đính kèm.

Posted in Uncategorized | Để lại phản hồi

TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG 7/2010

Tài chính-Ngân hàng-Chứng khoán-Bảo hiểm 7/2010

Tin

Giảm lãi suất: Bắt đầu từ 5/7, nhiều NHTM đã bắt đầu giảm LS huy động xuống mức cao nhất là 11,2%/năm theo như cam kết trong cuộc họp với Hiệp hội ngân hàng, kéo theo sự giảm nhẹ của LS cho vay. Tiếp đó, 7/7 Thống đốc NHNN có văn bản yêu cầu TGĐ các NHTM thực hiện đúng nội dung đồng thuận giữa các thành viên của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam về việc giảm LS huy động VND, giao ngân hàng nhà nước chi nhánh tỉnh, TP kiểm tra, giám sát, đồng thời áp dụng ngay các biện pháp cần thiết và theo thẩm quyền để xử lý đối với các TGĐ các NHTM vi phạm nội dung đồng thuận này. Theo chủ trương của Chính phủ, LS huy động còn phải hạ về mức 10%/năm nhưng lãnh đạo Hiệp hội Ngân hàng cho rằng cần có lộ trình cho mức đó. Ngay ở mức đồng thuận hiện nay, nhiều NH nhỏ đã phải tuân thủ một cách gượng gạo vì họ sẽ gặp khó khăn về nguồn vốn khi hạ LS huy động, mà thị trường liên ngân hàng lại mất vai trò điều hành cung cầu vốn do những ngân hàng lớn thừa vốn lại không thể đem cho vay trên thị trường liên ngân hàng vì quy định không được dùng quá 20% vốn liên ngân hàng làm vốn tín dụng.

Nhiều ngân hàng đẩy mạnh khai trương các quỹ tiết kiệm: Trong gần 2 tháng trở lại đây, nhiều ngân hàng đã liên tiếp khai trương các quỹ tiết kiệm, là nơi chỉ có chức năng nhận tiền gửi và không có chức năng cho vay. Trong bối cảnh xin phép mở chi nhánh và phòng giao dịch khó khăn như hiện nay, đây được xem là một cách dễ nhất để ngân hàng mở rộng mạng lưới của mình. Quỹ tiết kiệm hiện nay chỉ được phép thực hiện các chức năng là huy động tiền gửi tiết kiệm, phát hành và chiết khấu giấy tờ có giá do chính ngân hàng thương mại phát hành, và làm dịch vụ đại lý chi trả kiều hối, và dịch vụ chuyển tiền trong nước (TBKTSG 6/7).

Nghị định mới về đăng ký giao dịch bảo đảm: Nghị định 83/2010/NĐ-CP về đăng ký giao dịch bảo đảm vừa được Thủ tướng ký ban hành, có hiệu lực từ 9/9 tới. Theo đó, các giao dịch bảo đảm phải đăng ký là: thế chấp quyền sử dụng đất, thế chấp rừng sản xuất là rừng trồng, cầm cố tàu bay, thế chấp máy bay, thế chấp tàu biển và các trường hợp khác nếu pháp luật có quy định. Người yêu cầu cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm phải nộp phí cung cấp thông tin. Riêng với khách hàng thường xuyên tại Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm phải nộp phí sử dụng dịch vụ khách hàng thường xuyên.

Về phương thức đăng ký, ngoài việc hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm phải được nộp trực tiếp tại trụ sở của cơ quan đăng ký hoặc gửi qua đường bưu điện theo quy định cũ, thì theo quy định mới, hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm có thể được gửi qua fax hoặc gửi qua thư điện tử với đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản tại các trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản với điều kiện người yêu cầu đăng ký đã đăng ký khách hàng thường xuyên tại Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp hoặc gửi qua hệ thống đăng ký trực tuyến. Cá nhân, tổ chức có quyền đăng ký giao dịch bảo đảm thông qua hệ thống đăng ký trực tuyến và đơn yêu cầu đăng ký trực tuyến có giá trị pháp lý như đơn giấy.Cơ quan quản lý hệ thống đăng ký trực tuyến có trách nhiệm cấp tài khoản đăng ký trực tuyến cho cá nhân, tổ chức, nếu có yêu cầu. Cá nhân, tổ chức có tài khoản đăng ký trực tuyến phải bảo vệ và chịu trách nhiệm về việc sử dụng tài khoản của mình.

Đối với hộ gia đình, cá nhân có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp qua các thời kỳ và cư trú tại các xã, thị trấn ở xa huyện lỵ thì được lựa chọn đăng ký thế chấp tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện hoặc đăng ký thế chấp tại UBND xã, nếu văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện ủy quyền đăng ký thế chấp.

Các cơ quan có trách nhiệm thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm bao gồm: Cục Hàng không Việt Nam thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay. Chi cục hàng hải hoặc Cảng vụ hàng hải thuộc Cục Hàng hải Việt Nam thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về thế chấp tàu biển. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc sở tài nguyên và môi trường và văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc phòng tài nguyên và môi trường quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất. Trung tâm Đăng ký giao dịch tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản, trừ tàu bay, tàu biển và các tài sản khác không thuộc thẩm quyền đăng ký của các cơ quan quy định tại các điểm nêu trên. (landtoday.net 29/7-Theo VnEconomy)

NHNN và Bộ Tài chính trao đổi thông tin về người nộp thuế: Bộ Tài chính, NHNN vừa ký thông tư về cơ chế trao đổi thông tin giữa cơ quan quản lý thuế và các tổ chức tín dụng. Theo đó, các tổ chức tín dụng sẽ cung cấp cho ngành thuế hồ sơ, thông tin giao dịch qua tài khoản ngân hàng của người nộp thuế; hồ sơ, chứng từ, số tài khoản thanh toán, các bản sao sổ kế toán; chứng từ thanh toán nội địa, quốc tế… Ngành thuế cũng sẽ cung cấp cho các tổ chức tín dụng một số thông tin cần thiết nhằm giảm thiểu rủi ro (Tuổi Trẻ 21/7).

Công ty thông tin tín dụng tư nhân đầu tiên ở VN đã ra mắt 16/7, cam kết cung cấp thông tin tín dụng của hơn 20 ngân hàng. Công ty thông tin tín dụng này được phát triển từ Công ty cổ phần đầu tư PCB, thành lập tháng 12-2007 với vốn điều lệ 50 tỉ đồng, được góp bởi 11 ngân hàng thương mại cổ phần, gồm ACB, ABBank, VietinBank, BIDV, Đông Á, Techcombank, Vietcombank, SCB, VIB, Vietcombank và VPBank. Các ngân hàng cùng sở hữu một tỷ lệ cổ phần như nhau, chia đều từ 70% vốn điều lệ, 20% vốn điều lệ thuộc đối tác chiến lược CRIF S.p.A (Ý) và 10% còn lại dự kiến sẽ được bán cho một một đối tác chiến lược khác. Theo quy định hiện hành, ở Việt Nam chỉ có thể thành lập hai trung tâm thông tin tín dụng tư nhân bên cạnh CIC của Ngân hàng Nhà nước (TBKTSG 17/7).

Vietcombank bán bớt cổ phần tại các ngân hàng khác: VCB vừa hoàn tất việc bán khoảng 19% cổ phiếu của Ngân hàng TMCP Gia Định và đã đăng ký bán 5 triệu cổ phiếu Eximbank theo phương thức thỏa thuận hoặc khớp lệnh để tái cơ cấu danh mục đầu tư. Có ý kiến cho rằng VCB bán bớt cổ phần tại các ngân hàng khác để cải thiện hệ số CAR mà theo Thông tư 13 của NHNN, sau 1/10 phải ở mức tối thiểu 9% thay vì 8% như quy định hiện hành. Do VCB đã đầu tư vào các ngân hàng khác hàng ngàn tỉ đồng (riêng ở Eximbank là 771 tỷ) mà những khoản này sẽ phải trừ ra khỏi vốn cấp 1 (vốn tự có = vốn cấp 1+ cấp 2) nên việc giảm số trừ để tăng vốn tự có hòng cải thiện hệ số CAR có thể là 1 lý do (xem thêm bài của Hải Lý cuối entry). Từ 1 phía khác, NHNN vừa chấp thuận chi hơn 1.018 tỉ đồng từ Quỹ hỗ trợ sắp xếp DN trung ương để mua cổ phần phát hành thêm của Vietcombank. Hiện nhà nước đang nắm giữ 90,72% cổ phần của ngân hàng này (TBKTSG 28/7).

VP Bank đổi tên: 27/7 Thống đốc NHNN đã chấp thuận đổi tên Ngân hàng TMCP Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thành Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh vượng. Tên mới tiếng Anh là Vietnam Prosperity Joint-Stock Commercial Bank  giúp cho tên viết tắt tiếng Anh VP Bank đã thân quen không thay đổi. Việc đổi tên diễn ra sau khi BLĐ mới của Ngân hàng đánh giá tên cũ đã hoàn thành sứ mệnh, cần tái định vị thương hiệu theo bối cảnh và hướng phát triển mới (Nguoilanhdao.net 28/7).

Thanh tra hỗ trợ lãi suất ở Ngân hàng Quân đội (MB) vừa kết thúc trong tháng đã xác định, ngân hàng này đã cho vay hỗ trợ lãi suất sai đối tượng, dẫn đến hỗ trợ lãi suất sai 450 triệu đồng; xác định thời gian vay hỗ trợ lãi suất không đúng quy định, cho vay với các hồ sơ vay vốn không đủ căn cứ pháp lý về vay vốn lưu động dẫn đến hỗ trợ sai trên 15,82 tỉ đồng. Điển hình về việc cho vay sai đối tượng, dẫn đến nguồn vốn ngân sách bị sử dụng sai mục đích theo quyết định 131/QĐ-TTg có thể kể đến việc cho vay đối với công ty cổ phần Đầu tư phát triển công nghệ điện tử viễn thông. Công ty này đã dùng tổng số tiền vay là 25,98 tỉ đồng, trong đó có 450 triệu đồng vốn hỗ trợ lãi suất để mua máy xử lý dữ liệu tự động, linh kiện máy vi tính không thuộc diện đối tượng được hỗ trợ lãi suất cho vay theo quyết định của Thủ tướng và thông tư hướng dẫn (số 02/TTHD-NHNN) của ngân hàng Nhà nước. Điển hình cho việc xác định thời gian hưởng hỗ trợ LS không đúng là TCty Xăng dầu Quân đội, trong tổng số tiền vay được hỗ trợ lãi suất là gần 11,9 tỉ đồng thì có trên 7,2 tỉ đồng được hỗ trợ không đúng do việc xác định thời gian hưởng hỗ trợ lãi suất của ngân hàng cho vay (ngân hàng Quân đội) không đúng. Phía ngân hàng cũng không thẩm định chặt chẽ phương án sản xuất, kinh doanh của tổng công ty này. Một loạt các doanh nghiệp khác được vay hỗ trợ lãi suất nhưng có sai phạm về xác định thời gian vay, như công ty cổ phần Truyền thông trực tuyến (được hưởng 811 triệu đồng hỗ trợ sai quy định), công ty TNHH thương mại và dịch vụ Thành Long… Được hỗ trợ lãi suất khi hồ sơ không đủ căn cứ pháp lý về vay vốn lưu động có thể kể tên công ty cổ phần xây dựng thuỷ lợi Sông Hồng.

Cũng liên quan đến sai phạm trong cho vay hỗ trợ lãi suất, ô.Đoàn Tiến Dũng, nguyên phó TGĐ BIDV đã bị viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội buộc tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi”. Trước đó, ông này bị cơ quan điều tra đề nghị truy tố về hành vi nhận hối lộ cùng với một người khác nguyên là phó giám đốc BIDV chi nhánh Hải Phòng do đòi doanh nghiệp hối lộ hàng tỉ đồng mới cho vay vốn có hỗ trợ lãi suất (SGTT 26/7).

Diễn biến giá vàng: Đầu tháng 7, giá vàng ở mức 28,58 tr.đ/lượng, cao hơn giá thế giới khoảng 550.000 đ/lượng, sự chênh lệch tiếp tục gia tăng đến mức đỉnh điểm 700.000 đ/lượng, 1 sự chênh lệch khá hấp dẫn để giới kinh doanh gom USD để nhập lậu vàng, kéo theo sự lên giá của USD. Sự lên giá của vàng ở VN cao hơn thế giới là do thị trường vàng VN chưa liên thông với thị trường quốc tế, giới đầu cơ găm hàng không chịu bán còn các ngân hàng không dám bán vàng huy động khi đã mất công cụ phòng ngừa rủi ro là vàng tài khoản. 9/7 Thống đốc NHNN ký quyết định cho phép nhập vàng trở lại, quyết định này đẩy giá vàng đi xuống ngay trong ngày (28,24 tr.đ/lượng), thu hẹp dần khoảng cách với giá vàng thế giới, thậm chí trong khoảng từ 14 đến 19/7, giá vàng trong nước còn thấp hơn giá thế giới. Tuy nhiên từ sau 19/7, giá vàng lại cao hơn giá thế giới do các Cty vàng bạc cho biết vẫn chưa nhận được giấy phép nhập khẩu vàng, “đòn gió” của NHNN đã bị thị trường bắt bài. Mức chênh lệch không lớn như hồi đầu tháng do giá vàng quốc tế cũng tăng. Đến 31/7 giá vàng bán ra trong nước trụ ở mức 27,77 tr.đ/lượng được coi là nhỉnh hơn một chút so với giá thế giới (1.181,4 USD/ounce). Nhìn chung giá vàng tháng 7 tăng so với tháng 6 khoảng 2,15%,

Giá USD: Bên cạnh yếu tố giá vàng đẩy giá đô, lý do chính khiến USD trên thị trường tự do sau 2 tháng rưỡi đứng nguyên dưới mốc 19.000 đ/USD bắt đầu chuyển động theo hướng tăng là nhiều DN đến thời điểm trả nợ ngoại tệ đẩy cầu ngoại tệ gia tăng (những tháng trước do tín dụng nội tệ bế tắc, các NH đã mạnh tay cho vay ngoại tệ, nay giảm cho vay ngoại tệ thì các KH xuất khẩu cũng dè chừng hơn trong việc bán USD cho ngân hàng còn các nhà nhập khẩu tăng mua USD để phòng ngừa, chưa kể trước đây nhiều DN vay USD bán lấy VND để đầu tư cho SXKD giờ có nhu cầu mua USD để trả nợ hoặc găm giữ đợi trả nợ do đánh giá USD sẽ tăng tiếp) và lãi suất tiền đồng giảm gây tâm lý chuyển dịch tiết kiệm từ tiền đồng sang ngoại tệ (Theo nhà báo Hải Lý-TBKTSG: LS huy động VND đang lùi dần về 11%/năm và có thể xuống 10%/năm như chỉ đạo của CP, LS tiết kiệm ngoại tệ của một số ngân hàng đã chạm 5%/năm, chênh lệch 6 điểm phần trăm hiện đúng bằng mức chênh lệch lạm phát giữa VN và Mỹ). Kết quả là USD trên thị trường tự do liên tục nhích dần, ở thời điểm 31/7 giá mua vào 19.200 đ/USD, bán ra 19.260 đ/USD, tăng 0,38% so với tháng 6/2010.

Dragon Capital tiếp tục đầu tư tại VN: Sau phiên họp đại hội nhà đầu tư tại TPHCM 12/7, đa số nhà đầu tư giữ chứng chỉ quỹ do Dragon Capital phát hành đều đồng ý để Dragon Capital tiếp tục đầu tư tại Việt Nam. Kết quả bỏ phiếu đồng ý để 2 quỹ của Dragon Capital là Vietnam Enterprise Investments Fund (VEIL) và Vietnam Growth Fund (VGF) tiếp tục đầu tư tại Việt Nam khá cao và được lãnh đạo quỹ đánh giá là tốt hơn mức họ mong đợi. Đây là 1 thông tin tốt cho TTCK Việt Nam, tuy nhiên nó không khắc phục được xu hướng đi ngang hiện nay của thị trường (TBKTSG 2/7).

Sàn UPCoM khớp lệnh liên tục: Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội và Trung tâm Lưu ký chứng khoán thông báo kể từ 19/7, sàn UPCoM giao dịch từ 8g30 tới 15g00, đồng thời áp dụng giao dịch khớp lệnh liên tục thay thế giao dịch thỏa thuận điện tử. Phương thức giao dịch thỏa thuận thông thường được giữ nguyên.

Sàn UPCoM vẫn giữ nguyên quy định về đơn vị giao dịch đối với phương thức thỏa thuận và áp dụng đơn vị 100 đối với giao dịch khớp lệnh liên tục trái phiếu hoặc cổ phiếu. Giá tham chiếu của cổ phiếu đang giao dịch là bình quân gia quyền của các giá giao dịch thực hiện theo phương thức khớp lệnh liên tục của ngày giao dịch gần nhất trước đó (TBKTSG 18/7) Kể từ khi vận hành, sàn UPCoM không được nhiều nhà đầu tư quan tâm, bởi hai lý do chính: phương thức khớp lệnh không phù hợp (phải thỏa mãn cả về giá và khối lượng) và sự mù mờ về thông tin của các DN. Sau một năm hoạt động, không ít nhà đầu tư và DN coi UPCoM chỉ là “trạm trung chuyển” trước khi lên niêm yết trên HOSE và HNX.Với việc thay đổi phương thức khớp lệnh, 1 nhược điểm của UPCoM đã được khắc phục (Đầu tư Chứng khoán 23/7).

Chứng khoán tiếp tục lình xình: VN-Index lên xuống quanh quẩn ở mức 500 điểm, đến phiên cuối cùng của tháng 7 (30/7)dù có tăng nhẹ song VN-Index vẫn dừng ở mức 493,91 điểm, giảm 2,7% so với đầu tháng và dưới ngưỡng 500 điểm. Tại các phiên giao dịch trong tháng 7, chỉ số chứng khoán hầu như dao động trong biên độ rất hẹp; một chu kỳ tăng hoặc giảm chỉ diễn ra trong vài ba phiên, và các cổ phiếu có vốn hóa thấp lại là những cổ phiếu dẫn dắt thị trường. Thanh khoản của thị trường trong tháng qua cũng rất thấp, giá trị giao dịch bình quân một phiên chỉ dao động từ 1.000 đến 1.300 tỉ đồng, và dòng tiền chủ yếu tập trung vào các cổ phiếu vốn hóa nhỏ và thị giá thấp (TBKTSG 30/7).

19 doanh nghiệp bảo hiểm bị phạt 1,7 tỷ đồng vì hành vi liên kết tăng giá: Hành vi diễn ra cũng đã lâu, tại hội nghị các TGĐ các Cty bảo hiểm phi nhân thọ lần 6 ngày 15/9/2008, 19/25 doanh nghiệp bảo hiểm đã ký kết “bản thỏa thuận hợp tác giữa các doanh nghiệp bảo hiểm trong lĩnh vực bảo hiểm xe cơ giới” và “điều khoản biểu phí bảo hiểm vật chất ôtô”. Sau khi Cục Quản lý cạnh tranh vào cuộc, đến nay đã kết luận có đủ bằng chứng của hành vi liên kết độc quyền. Hội đồng xử lý vụ việc của Hội đồng cạnh tranh đã phạt các doanh nghiệp bảo hiểm 0,025% doanh thu năm 2007 trên mức đề nghị của Cục Quản lý cạnh tranh là 0,1%. (Tuổi Trẻ 31/7)

Bài

Dấu hiệu tảng băng trôi

Hải Lý- TBKTSG 22/7

Tuần trước Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) đăng ký bán 5 triệu cổ phiếu Eximbank theo phương thức thỏa thuận hoặc khớp lệnh để tái cơ cấu danh mục đầu tư. Vietcombank đang sở hữu hơn 77 triệu cổ phiếu Eximbank, nên con số 5 triệu cổ phiếu chỉ là phần nhỏ. Tuy nhiên, động thái thoạt nhìn chẳng có gì đáng chú ý ấy lại là dấu hiệu phần nổi của một tảng băng đang trôi trên thị trường tài chính.

Vietcombank bán cổ phần ngân hàng khác

Vietcombank vừa hoàn tất việc bán khoảng 19% cổ phiếu của Ngân hàng TMCP Gia Định. Tháng trước khi trao đổi với TBKTSG, ông Nguyễn Phước Thanh, Tổng giám đốc ngân hàng, xác nhận: “Chúng tôi chuyển nhượng để giảm tỷ lệ sở hữu một ngân hàng khác xuống 11% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Giá chuyển nhượng là theo giá thị trường”.

Vietcombank và quỹ đầu tư của Vietcombank mua 30% cổ phiếu Ngân hàng Gia Định hơn ba năm trước với thị giá lúc bấy giờ ước 30.000 đồng/cổ phiếu. Sau nhiều lần phát hành cổ phiếu thưởng tăng vốn, trả cổ tức, giá vốn đầu tư của Vietcombank tụt xuống còn bằng một nửa giá mua. Bây giờ chuyển nhượng, Vietcombank vẫn có lời.

Với cổ phiếu Eximbank, Vietcombank đầu tư với giá bằng mệnh giá (10.000 đồng/cổ phiếu). Năm 2000, khi Eximbank gặp khó khăn, Vietcombank đã được chỉ định góp vốn vào Eximbank, đồng thời cử người sang lãnh đạo ngân hàng này.

Cũng theo chỉ định của Nhà nước, thời gian đó Vietcombank còn góp vốn vào những ngân hàng khác với tư cách là cổ đông nhà nước như Quân đội, Phương Đông, Sài Gòn Công thương.

Sau Gia Định, Vietcombank sẽ chuyển nhượng để giảm tỷ lệ sở hữu ở một số ngân hàng. Sự chuyển nhượng sẽ mang lại lợi nhuận đáng kể cho Vietcombank vì giá vốn đầu tư bằng mệnh giá, song quan trọng là tìm đối tác mua như thế nào. Hơn nữa, xác định giá bán vô cùng phức tạp. Giá cổ phiếu ngân hàng trên thị trường OTC hiện đang thấp, có loại thấp hơn giá trị sổ sách.

Liệu Vietcombank có thể căn cứ vào giá đó để mua bán? Còn nếu không thì căn cứ vào đâu? Thí dụ cổ phiếu của Ngân hàng Sài Gòn Công thương đang được chuyển nhượng trên thị trường với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, nhưng giá trị sổ sách gấp 4-5 lần mệnh giá do Sài Gòn Công thương sở hữu nhiều tài sản đất đai, nhà cửa ở TPHCM cũng như các tỉnh.

Trong bối cảnh thị trường chứng khoán từ đầu năm đến nay không tăng trưởng, cổ phiếu ngân hàng vẫn chưa ngừng giảm giá, nhà đầu tư nào sẽ đứng ra mua lại cổ phiếu của những đơn vị do Vietcombank bán? Người mua sẽ phải tính chuyện đầu tư dài hạn, ít cũng 3-5 năm, và góp sức vào việc quản trị ngân hàng. Với những khó khăn trước mắt như thế, người mua cần được ưu đãi. Vietcombank có đủ ưu đãi dành cho họ?

Không chỉ đơn giản là từ 8% lên 9%: Vì sao Vietcombank bán cổ phiếu các ngân hàng khác ở thời điểm hiện tại?

Ngày 20-5-2010, Phó thống đốc thường trực NHNN Trần Minh Tuấn ký ban hành Thông tư 13/2010/TT-NHNN quy định các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng. Theo đó thay đổi lớn nhất là từ 1-10-2010 tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của các ngân hàng được nâng từ 8% lên 9%. Giới ngân hàng “tặc lưỡi”: không có vấn đề gì, tăng thêm 1% là chuyện có thể giải quyết được. Hơn nữa, với các ngân hàng cổ phần lớn, tỷ lệ an toàn vốn đang trên 10%.

Nhưng Vietcombank không thể “thở phào nhẹ nhõm” như thế. Tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng này chưa đạt 8% mặc dù đã nhiều lần được phép tăng vốn từ lợi nhuận để lại và bổ sung vốn bằng trái phiếu từ nguồn ngân sách trước khi tiến hành cổ phần hóa. Việc phát hành tăng vốn điều lệ thêm 9,8% cách đây vài tháng chính là để Vietcombank nâng tỷ lệ an toàn vốn.

Chìa khóa của vấn đề là ở cách tính tỷ lệ 9% kia. Theo Thông tư 13, tỷ lệ an toàn vốn được xác định bằng vốn tự có trên tổng tài sản có rủi ro. Những thành phần cấu thành nên tổng tài sản có rủi ro được tính theo quy định mới nhằm tránh rủi ro tối đa cho các ngân hàng. Còn trong vốn tự có phải trừ ra nhiều khoản. Nói ngắn gọn là tử số được bóc tách để giảm đi, còn mẫu số thì tăng lên.

Cụ thể, điều 5 khoản 2.2 quy định các khoản phải trừ khỏi vốn cấp 1 (vốn tự có là tổng vốn cấp 1 và vốn cấp 2) gồm: “Các khoản góp vốn, mua cổ phần của các tổ chức tín dụng khác; các khoản góp vốn mua cổ phần của công ty con; các khoản góp vốn mua cổ phần của một doanh nghiệp, một quỹ đầu tư, một dự án đầu tư vượt mức 10%”.

Tổng số tiền Vietcombank đầu tư vào các ngân hàng khác hiện lên tới hàng ngàn tỉ đồng (chỉ riêng ở Eximbank là 771 tỉ đồng), chưa kể vốn góp vào công ty con, dự án. Tất cả những khoản này từ đầu tháng 10 tới phải trừ ra khỏi vốn tự có. Việc này sẽ làm vốn tự có của Vietcombank tụt giảm mạnh. Cho nên Vietcombank không còn cách nào khác là phải bán bớt đi và hạch toán các khoản thu về vào vốn tự có.

Không chỉ Vietcombank, nhiều ngân hàng khác cũng đang ráo riết rà soát lại vốn tự có và các khoản phải loại trừ ra. Điều 5 của Thông tư 13 dài tới 5 trang, quy định chi tiết từng khoản phải loại trừ. Khoản 2.1d của điều 5 thậm chí còn quy định rõ tới mức tiền mua cổ phiếu quỹ của ngân hàng lấy từ nguồn thặng dư vốn cổ phần cũng phải loại trừ khỏi vốn cấp 1. Việc loại trừ sẽ làm cho vốn tự có của một số ngân hàng giảm xuống và tỷ lệ an toàn vốn cũng giảm theo. Để đảm bảo tỷ lệ 9%, các ngân hàng chưa đạt mức này, sẽ phải hoặc tiếp tục tăng vốn hoặc giảm dư nợ cho vay và những khoản khác.

Suy cho cùng, cái đích của Thông tư 13 là sự “lập lại trật tự” trong hệ số an toàn vốn, giúp các ngân hàng có một tỷ lệ an toàn vốn đích thực. Từ đây, NHNN có thể sử dụng tỷ lệ này và tỷ lệ khả năng chi trả để kiểm soát cơ cấu dư nợ, tốc độ tăng trưởng tín dụng của từng ngân hàng. Thông tư 13 yêu cầu các ngân hàng “xây dựng bảng theo dõi, quản lý kỳ hạn thanh toán của tài sản có và kỳ hạn phải trả của tài khoản nợ của từng ngày” (điều 13, khoản 1).

Còn hơn hai tháng để các ngân hàng tính toán, điều chỉnh tỷ lệ an toàn vốn của mình theo quy định mới. Thời gian còn lại không dài để xử lý những khoản góp vốn, đầu tư. Việc xử lý là cần thiết. Thị trường tài chính sẽ phản ứng ra sao trước hiện tượng “tảng băng trôi” này mà trên đó những động thái của Vietcombank đang nổi rõ hơn cả?

http://www.thesaigontimes.vn/Home/taichinh/chungkhoan/37935/

Liên thông để hạ nhiệt

T.TU-Tuổi Trẻ 21/7

Tái diễn tình trạng giá vàng trong nước cao hơn thế giới, đẩy giá USD tại thị trường tự do nhấp nhổm tăng, nếu không xử lý khéo có thể làm gia tăng tâm lý lo lắng là tỉ giá sẽ tăng.

Chuyện “giá vàng đẩy giá đô” là căn bệnh kinh niên của thị trường ngoại hối VN do thị trường vàng trong nước tách biệt với thị trường vàng thế giới. Việc nhập khẩu vàng phải có giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp nhưng nơi này hạn chế cho nhập vàng, từ đó hoạt động nhập lậu vàng lại nhộn nhịp. Cứ mỗi lần giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới, giới buôn USD lại găm hàng tăng giá vì biết là dân buôn vàng cũng phải tìm mua để nhập lậu vàng.

Vì vậy, không phải ngẫu nhiên khi giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới, Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ cho nhập vàng không hạn chế số lượng. Tuyên bố như thế nhưng thực lòng Ngân hàng Nhà nước không muốn nhập khẩu vàng vì ảnh hưởng đến con số thống kê về nhập siêu, một yếu tố ít nhiều gây sức ép lên tỉ giá VND/USD.

Tuy nhiên, khi hồ sơ xin nhập vàng đã được nhiều công ty nộp cho Ngân hàng Nhà nước nhưng chưa có giấy phép được cấp ra, thị trường hiểu rằng đó chỉ là “đòn gió”. Vì vậy giá vàng vẫn cao, kéo giá USD tại thị trường tự do tăng theo.

Có thể hiểu rằng việc tuyên bố cho nhập vàng nhưng lại chậm cấp giấy phép là “đòn gió” của Ngân hàng Nhà nước để thị trường tự điều chỉnh. Thực tế cũng đã có nhiều lần Ngân hàng Nhà nước thành công trong bình ổn thị trường ngoại tệ – vàng bằng cách này. Chuyện này cũng bình thường vì thị trường ngoại tệ – vàng chủ yếu mang yếu tố tâm lý, kỳ vọng và đầu cơ. Mọi người kỳ vọng giá lên, găm giữ hàng, thậm chí mua gom để đầu cơ, nhưng nếu có luồng thông tin đủ sức đánh đổ kỳ vọng đó thì giá sẽ giảm lại.

Nhưng ở thời điểm này,  “đòn gió” của Ngân hàng Nhà nước đã bị thị trường “bắt bài”. Đặc biệt, thị trường đang bị chi phối bởi hoạt động xuất khẩu vàng. Trước đó, trong tháng 5 và 6-2010, doanh nghiệp vàng tranh thủ giá vàng thế giới ở mức cao đã xuất khẩu vài chục tấn vàng, thu về hàng tỉ USD. Giới kinh doanh vàng đã dựa vào đó để giữ giá vàng ở mức cao. Họ cho rằng không cho nhập vàng, nguồn cung khan hiếm, giá phải tăng. Trong bối cảnh đó, giới buôn USD chợ đen chẳng tội vạ gì mà không tăng giá bán USD, bất kể thị trường có nhu cầu về USD để nhập lậu vàng hay không.

Khi thị trường luôn phập phù theo động thái cấp phép nhập khẩu vàng từ Ngân hàng Nhà nước cũng là lúc cần phải giải quyết câu chuyện liên thông của thị trường vàng trong nước với thế giới. Còn duy trì cấp phép xuất/nhập khẩu vàng nguyên liệu, thị trường vàng trong nước bị ngăn cách với thế giới, luôn tạo ra cơ hội cho hoạt động đầu cơ phát sinh, thị trường vàng khi “nóng”, khi “lạnh”…  

Nhưng nguy hiểm hơn đó là do tính liên thông giữa thị trường vàng và ngoại tệ, một hòn đá nhỏ của giá vàng được ném ra cũng có thể tạo ra những cơn sóng dữ về tỉ giá. Cho thị trường vàng trong nước liên thông với thế giới, tức là cho xuất/nhập vàng, chưa hẳn là gây sức ép lên nhập siêu. Điều đó đúng trong những năm trước, khi người dân còn thói quen mua vàng cất giữ hoặc do hoạt động đầu cơ của giới kinh doanh vàng.  

Còn hiện nay, người dân không còn chọn vàng là nơi cất giữ tài sản. Thậm chí nhiều người đang thoái vốn khỏi vàng và đã có hàng tỉ USD thu về từ xuất khẩu vàng. Những gì diễn ra trong ba năm qua cho thấy không chỉ có chi ngoại tệ cho nhập vàng mà đang diễn ra chiều ngược lại, thu vài tỉ USD từ xuất vàng. Một số công ty cho biết họ đã xuất khẩu vàng ở mức giá trên 1.240 USD/tấn, nay giá vàng thế giới chỉ còn trên 1.180 USD/tấn, nếu được nhập tính ra nền kinh tế sẽ được lợi.

http://tuoitre.vn/Kinh-te/391268/Gia-vang-trong-nuoc-cao-vi-sao.html

Mất tiền vì ngỡ máy ATM hỏng

Tuổi Trẻ 24/7

Lại xảy ra khiếu nại giữa người rút tiền từ ATM với ngân hàng (NH) nhưng có tình tiết mới, đó là người rút tiền ngỡ máy hỏng nên đã rời khỏi buồng máy ATM, trong khi máy vẫn làm việc, trả tiền ra và người rút tiền kế tiếp nhanh tay hưởng lợi.

Ông L.S.Đ. – chủ thẻ ATM do NH Quốc Tế (VIB) phát hành – cho biết đầu tháng 6-2010 có rút tiền tại máy ATM của NH Ngoại thương TP.HCM. Ông nhập lệnh rút 2 triệu đồng nhưng máy “im re”, không nghe tiếng đếm tiền như mọi khi. Nghĩ rằng máy hết tiền nên ông bấm hủy giao dịch để lấy thẻ.

Sau đó, ông bước sang buồng ATM bên cạnh nhập lệnh rút 1,5 triệu đồng. Ông Đ. cho biết đứng chờ 10-15 phút vẫn không thấy máy nhả tiền. Khi kiểm tra tài khoản ông thấy chỉ còn 199.000 đồng. Nghĩ rằng công ty chưa chuyển lương vào tài khoản nên ông về. Nhưng sau đó kế toán công ty cho biết đã trả lương vào tài khoản. Ông liền khiếu nại NH và được trả lời giao dịch đầu tiên của ông đã thành công và người giao dịch đến sau đã nhận tiền.

Ông Trịnh Thượng Thức – trưởng phòng thẻ NH Vietcombank chi nhánh TP.HCM – cho rằng theo quy trình giao dịch, sau khi khách hàng nhập mật mã và số tiền cần rút, máy ATM sẽ thực hiện thao tác đếm tiền, lúc này có thể nghe tiếng máy chạy. Sau đó tiền được chuyển lên sẵn ở khe tiền. Sau khi máy hỏi khách hàng có cần in hóa đơn và nhả thẻ, 2-3 giây sau cửa khe tiền sẽ mở để đẩy tiền ra. Nếu tiền đưa ra mà không có người nhận thì 40 giây sau máy sẽ tự động thu tiền trở lại.

Ông Thức khẳng định không có giao dịch rút tiền nào mà sau khi trả thẻ đến 15-20 phút sau máy ATM mới nhả tiền. “Ngay với những giao dịch khi xảy ra sự cố, máy bị “đứng”, treo… thì cũng không thể kéo dài quá 2-3 phút” – ông nói.

Còn theo ông Trần Quang Thoại – giám đốc kinh doanh thẻ VIB, sau khi nhận được phản ảnh của khách hàng, ông đã đề nghị Vietcombank tra soát. Kết quả cho thấy giao dịch đã thành công và tiền được lấy sau 23 giây kể từ khi ATM chi tiền cho khách hàng. Quan sát hình ảnh camera do Vietcombank cung cấp cho thấy toàn bộ giao dịch chỉ kéo dài khoảng một phút. Sau khi nhấn nút “cancel” để hủy giao dịch và lấy thẻ ra, ông Đ. đã rời buồng ATM.

Camera do Vietcombank cung cấp cũng ghi nhận được hình ảnh người đến sau thấy tiền ở khe đã lấy đi ở giây thứ 23 sau khi ATM nhả tiền. Do người đến sau không thực hiện giao dịch tiếp theo nên NH không xác định được danh tính. Quá trình kiểm quỹ tại Vietcombank trong ngày ông Đ. giao dịch cũng không có chênh lệch bất thường.

Theo ông Trịnh Thượng Thức, thực tế đã xảy ra nhiều tình huống khách hàng sau khi nhập mật mã và số tiền cần rút thấy máy ATM có dấu hiệu không bình thường nên ấn nút “cancel” để hủy bỏ giao dịch. Tuy nhiên không thể “chữa cháy” bằng tình huống này vì ngay lập tức sau khi nhập lệnh rút tiền thì hệ thống đã thực hiện các bước tiếp theo cũng như trừ tài khoản.

Còn theo ông Trần Quang Thoại, đôi khi khách hàng vì lý do nào đó không nghe được tiếng máy chạy, nghĩ máy trục trặc nên hủy giao dịch, lấy thẻ ra. Ông Thoại cho biết khi giao dịch cần chú ý nhìn màn hình, vì trên màn hình sẽ hiển thị hướng dẫn như “đang giao dịch”, “có cần in hóa đơn hay không”, “mời nhận tiền”. Khi màn hình báo “giao dịch hoàn tất” và trở lại trạng thái bình thường thì giao dịch mới thật sự kết thúc. Vì tiền được đưa ra sau khi trả thẻ nên nhiều trường hợp nhận được thẻ đã vội vã bỏ đi và bị mất tiền.

Ông Thức cũng lưu ý khách hàng không nên bỏ ra ngoài buồng ATM khi chưa thực hiện xong giao dịch. Có trường hợp khách hàng bị mất tiền oan như sau khi thực hiện giao dịch, khách hàng lấy thẻ bỏ ra ngoài mà quên lấy tiền và người tiếp theo đã lấy mất…

A.H

Ý kiến

ATM bị lỗi mất tiền

Tôi là một lập trình viên. Qua bài viết này tôi chưa thấy cách giải quyết của ngân hàng về thiệt hại của khách hàng dùng thẻ ATM. Theo tôi lỗi này hoàn toàn thuộc về ngân hàng, trả lời của ông Trịnh Thượng Thức là chưa thuyết phục bởi lẽ: vì lỗi này rất nghiêm trọng thuộc về lỗi hệ thống máy ATM, nếu khi người dùng thẻ đã bấm nút đồng ý thực hiện giao dịch thì có các tình huống xảy ra sau:

- Nếu giao dịch của khách hàng chưa được hệ thống chấp nhận thì người dùng có thể nhấn nút huỷ bỏ giao

dịch để lấy lại thẻ.

- Nếu giao dịch của khách hàng đang được hệ thống xử lý thì khi người sử dụng thẻ nhấn nút huỷ bỏ giao dịch thì hệ thống phải báo cho người dùng biết là đang thực hiện giao dịch và chưa nhả thẻ ra thì mới đúng, đằng này máy vẫn cứ nhả thẻ ra là sai logic vì vậy tôi cho rằng đây là lỗi của hệ thống ATM.

Tôi không biết ATM các ngân hàng khác có lỗi tương tự hay không. Việc khắc phục lổi này cũng đòi hỏi phải biết cách xử lý của người lập trình và phải xử lý ngay trên Client (máy ATM) chứ không thể giải quyết từ Server (Tổng đài ngân hàng) vì: Nếu khi tổng đài đang bận (quá nhiều giao dịch đang thực hiện) lúc này server chưa kịp xử lý thì người dùng đã lấy thẻ ra đi… nói chung là phải biết cách.

Thanh Vũ

http://tuoitre.vn/Kinh-te/391711/Mat-tien-vi-ngo-may-ATM-hong.html

Chứng khoán 2010: Phân hóa

Ngọc Thủy-Nhịp cầu Đầu tư 26/7

Thị trường chứng khoán đã đi được hơn nửa chặng đường của năm 2010. Tuy nhiên, không riêng gì nhà đầu tư mà giới chuyên gia đều cho rằng, rất khó để nắm bắt đường đi của VN-Index. Ông Dominic Scriven, Tổng Giám đốc Quỹ Dragon Capital, nói vui: “Đoán chỉ số lúc này chẳng khác gì cá độ”.

Có nhiều lý do để giới chuyên gia thận trọng và né tránh việc dự báo về chỉ số. Thứ nhất, kinh tế thế giới tuy đã có dấu hiệu phục hồi (kinh tế thế giới quý I/2010 tăng trưởng 5%) nhưng nhà đầu tư vẫn chưa hết lo ngại. Chỉ số niềm tin người tiêu dùng tại Mỹ đã xuống 66,5, thấp hơn mức dự báo là 75. Các chỉ số sản xuất chung của Mỹ cũng giảm, báo hiệu sự tăng trưởng đang chậm lại.

Trong nước, các chỉ số kinh tế vĩ mô đang tốt lên: GDP quý II/2010 tăng trưởng 6,4% so với cùng kỳ, lạm phát tiếp tục duy trì ở mức thấp… Tuy nhiên, ông Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, nhận định: “Các con số lạc quan chưa hẳn là niềm tin của thị trường đã lạc quan”. Chẳng trách dù đón nhận thông tin vĩ mô ổn định nhưng VN-Index vẫn lình xình quanh mức 500 điểm từ đầu năm đến nay.

Tại Hội nghị Đầu tư 2010, thay vì đưa ra dự báo về VN-Index, ông Dominic tìm cách vẽ lại bức tranh thị trường chứng khoán giai đoạn 2010 – 2011 thông qua xu hướng phát triển của từng ngành.

Nghiên cứu của Dragon Capital tại 50 doanh nghiệp có mức vốn hóa lớn nhất trên thị trường chứng khoán đã chỉ ra 2 nhóm ngành triển vọng nhất và cần thận trọng nhất trong giai đoạn 2010 – 1011.

Thực phẩm lên ngôi

Dù đứng sau ngành bảo hiểm và dịch vụ phần mềm về mức tăng giá cổ phiếu từ đầu năm đến nay, theo tính toán của Dragon Capital, nhưng phân tích sâu hơn cổ phiếu ngành thực phẩm có nhiều yếu tố hấp dẫn.

Thứ nhất, đà tăng giá của cổ phiếu ngành thực phẩm không dựa vào sự bứt phá của một vài cổ phiếu. Trong khi cổ phiếu bảo hiểm tăng mạnh là nhờ đà tăng của cổ phiếu BVH của Tập đoàn Bảo Việt (từ đầu năm đến nay giá BVH đã tăng 51%, sau khi có tin Ngân hàng HSBC tăng vốn vào BVH) thì các doanh nghiệp thực phẩm hầu như đều thể hiện kết quả kinh doanh tốt. Nhiều doanh nghiệp ngành thực phẩm, cụ thể như Vinamilk (VNM) đang ra sức mở rộng thị trường, tiếp thị hiệu quả để nắm bắt nhu cầu tiêu dùng nội địa tăng mạnh. Dragon Capital dự báo, tăng trưởng doanh thu năm nay của các doanh nghiệp thực phẩm sẽ đạt đến 48%. Ngoài ra, việc quản lý tốt chi phí, chuỗi giá trị và tận dụng cơ hội mua bán – sáp nhập cũng hứa hẹn giúp doanh nghiệp thực phẩm đạt mức tăng trưởng lợi nhuận cao.

Nhìn xa hơn, đến năm 2011, Dragon Capital cho rằng, thực phẩm sẽ tiếp tục tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận ấn tượng, nhất là VNM. Tuy nhiên, Dragon Capital cũng lưu ý, đối với những doanh nghiệp có mức lợi nhuận đột biến ngoài ngành (như Kinh Đô – KDC) hay một số công ty thủy sản gặp khó khăn trong xuất khẩu lợi nhuận sau thuế có thể giảm đáng kể.

Tài chính thất sủng

Giảm giá mạnh nhất trong 6 tháng đầu năm 2010 phải kể đến nhóm cổ phiếu ngân hàng. Ngành ngân hàng đang trải qua một năm nhiều thách thức. Lợi nhuận của ngân hàng bị ảnh hưởng do tăng trưởng tín dụng hạn chế, tỉ lệ lãi biên (NIM – chỉ số đo tỉ lệ sinh lời từ lãi suất cho vay của ngân hàng) bị thu hẹp, các mảng kinh doanh như vàng, chứng khoán không còn khởi sắc. Đặc biệt, các ngân hàng còn phải chịu áp lực tăng vốn để đảm bảo vốn điều lệ tối thiểu 3.000 tỉ đồng đến cuối năm 2010.

Vì thế, theo báo cáo của Dragon Capital, tính đến thời điểm này hoạt động tăng vốn diễn ra mạnh nhất ở ngành này (chiếm 53% tổng vốn tăng). Riêng 21 ngân hàng buộc phải tăng vốn trong năm nay đã “ngốn” khoảng 30.000 tỉ đồng. Vì thế, dù các ngân hàng đang kinh doanh có lãi nhưng nguy cơ pha loãng cổ phiếu (tăng trưởng EPS dự báo sẽ kém đi nhiều) khiến nhà đầu tư chưa muốn bỏ vốn vào cổ phiếu ngành này.

Ngành dịch vụ tài chính – chứng khoán, theo Dragon Capital, cũng không mấy sáng sủa. Lợi nhuận năm 2010 của các công ty chứng khoán có thể giảm mạnh do không còn các khoản hoàn nhập dự phòng và thị trường chứng khoán đã đi ngang từ đầu năm đến nay. Chưa kể, công ty chứng khoán phải cạnh tranh giành khách hàng rất gay gắt.

Nhìn rộng ra toàn thị trường, tỉ suất lợi nhuận của hầu hết các ngành sẽ khó đột biến, do chi phí đầu vào tăng, cạnh tranh ngày càng khốc liệt và thuế thu nhập doanh nghiệp tăng do đã qua giai đoạn ưu đãi thuế. Và vì thế, VN-Index cuối năm 2010 vẫn là ẩn số.

(*) Không đại diện cho ngành, vì trong 50 doanh nghiệp Dragon Capital chỉ có 1 công ty thuộc ngành này.

http://www.nhipcaudautu.vn/article.aspx?id=5395

Posted in Uncategorized | Để lại phản hồi